Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Người giàu tiết kiệm tiền bạc như thế nào?

Kỹ lưỡng ngay cả những khoản chi nhỏ, tiết kiệm trước, chi tiêu sau...là những cách thức người giàu thường làm, giúp họ duy trì được sự giàu có.

Không ai trong chúng ta không mong muốn mình có nhiều tiền hơn. Đôi khi nếu bạn tự hỏi sao người giàu và thành công lại có nhiều tiền như vậy, bạn nên tiếp tục bài này.
Dưới đây là danh sách những mẹo bạn có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày để tiết kiệm tiền bạc theo cách người giàu vẫn làm.
1. Chú trọng đến những chi phí nhỏ
Tất cả chúng ta thường rất cẩn trọng với các khoản đầu tư lớn hay mua sắm những món đồ đắt giá. Tuy nhiên, chúng ta có xu hướng chi tiêu thoải mái khi chỉ phải bỏ ra một món tiền nhỏ.
Nhưng hãy nhớ, những khoản chi nho nhỏ này có thể tích thành một món lớn.
Như Suze Orman, cố vấn tài chính tại Merrill Lynch, đã chỉ ra “Nếu bạn đều có thể cắt giảm một chút từ những khoản chi tiêu. Gộp lại, bạn sẽ có một khoản tiết kiệm đáng kể".
2. Tập trung vào tương lai
Chúng ta dễ dàng bỏ tiền để mua một thứ gì đó chúng ta thích. Nhưng nếu cứ chạy theo sở thích như thế, đến cuối này, bạn sẽ tiêu hết tiền dù bạn có kiếm được nhiều tiền ở mức nào.
Hãy chuyển tâm điểm của bạn vào tương lai thay vì thỏa mãn nhu cầu trong hiện tại.
“Khi trẻ, bạn có thể sống không cần nhiều tiền, nhưng khi về già bạn không thể sống mà thiếu tiền được” - Tennessee Williams, nhà viết kịch và nhà văn người Mỹ.
3. Không mua những gì không cần thiết chỉ để gây ấn tượng với mọi người
Mặc dù tất cả chúng ta đều muốn được đồng nghiệp và bạn bè đánh giá cao về những món đồ chúng ta sở hữu, nhưng cần phải lập ra một giới hạn. Bạn nên mua những gì bạn cần, chứ không nên mua những thứ chỉ để gây ấn tượng với người khác.
"Hãy ngừng mua những thứ bạn không cần, chỉ để gây ấn tượng với những người mà bạn thậm chí không thích" - Suze Orman,cố vấn tài chính tại Merrill Lynch, nói.
4. Phân định rõ ràng các khoản thu chi
Trong cuộc sống, bạn phải chi trả nhiều khoản đến mức bạn không tiết kiệm được đồng nào nếu bạn không lập ngân sách và kế hoạch chi tiêu - khoản thu và khoản chi.
Người giàu biết rõ tiền của họ đến từ đâu và tiền sẽ được chi vào đâu.
Một bảng tính Excel có thể giúp bạn làm tốt việc này.
"Dự thảo ngân sách sẽ cho bạn biết phải tiêu gì thay vì thắc mắc không hiểu mình đã tiêu gì mà hết sạch tiền" - John C. Maxwell, chuyên gia về nghệ thuật lãnh đạo.
5. Làm việc chăm chỉ
Khác với nhận thức phổ biến rằng người giàu toàn niềm vui và tận hưởng cuộc sống, thực tế cho thấy họ làm việc chăm chỉ hơn người bình thường, ít nhất ở độ tuổi có hiệu suất cao nhất.
Hãy cố gắng tăng thu nhập của bạn và khi thu nhập đã tăng, hãy tiết kiệm một phần lớn hơn bao giờ hết.
"Tôi thích kinh doanh và sự thật là tôi tiết kiệm được nhiều hơn tôi chi tiêu. Tôi đầu tư. Tôi lên kế hoạch cho tương lai. Tôi có một con mắt đặc biệt khi tìm kiếm cơ hội và tôi làm việc chăm chỉ hơn mức mọi người có thể tưởng tượng” - Sofia Vergara, diễn viên, doanh nhân người Mỹ.
6. Tiết kiệm phần lớn thu nhập của bạn
Một lần nữa, chúng ta thường nghĩ người giàu luôn phung phí và sẵn sàng mua sắm mọi thứ.
Không, họ không như vậy. Đó là lý do tại sao họ giàu có.
Người giàu luôn bỏ riêng một phần thu nhập để tiết kiệm. Bạn cũng nên tiết kiệm một phần lớn khoản tiền bạn kiếm được, điều này sẽ đảm bảo rằng bạn không bao giờ hết sạch tiền.
"Chúng tôi tiết kiệm 1/3 thu nhập, sống với 1/3 và làm từ thiện 1/3" - minh tinh màn bạc Angelina Jolie.
7. Tận dụng tối đa hàng giảm giá và mặc cả
Cũng giống như tất cả mọi người, người giàu luôn muốn có được giá trị cao nhất của tiền bạc. Họ luôn cố gắng tăng giá trị tiền bạc bằng việc tìm kiếm các khoản giao dịch có chiết khấu, giảm giá và mặc cả.
"Tại sao cùng một món hàng mà bạn lại phải trả nhiều tiền hơn người khác?” - Sarah Michelle Gellar, diễn viên và nhà sản xuất phim người Mỹ.
8. Đầu tư tiền tiết kiệm một cách khôn ngoan
Chúng ta thường bỏ qua những khoản đầu tư nhỏ nhưng đừng quên tích tiểu thành đại. Bạn càng có nhiều tiền để đầu tư thì càng tốt, nhưng nhỏ không có nghĩa là không làm được. Quan trọng hơn cả, nếu bạn biết đầu tư tiền đúng chỗ, bạn sẽ ngạc nhiên vì kết quả của mình nhận được.
"Một xu ở đây, một đồng ở kia, đừng để chúng ‘chết’, hãy làm chúng sinh lời và khi cộng lại bạn sẽ có một con số không nhỏ. Đôi khi bạn cũng phải theo một vài khóa đào tạo ngắn về kinh tế, nhưng một khi đã quen, bạn sẽ cảm thấy hài lòng với việc tiết kiệm hợp lý hơn là chi tiêu hợp lý" - PT Barnum, doanh nhân người Mỹ.
9. Thực hành công thức của triệu phú
Mọi người thông thường sẽ tiết kiệm sau khi đã bỏ ra các khoản chi phí cần thiết. Tuy nhiên, người giàu lại làm ngược lại, và chúng ta gọi đó là Công thức của Triệu phú.
Dựa vào thu nhập của mình, người giàu sẽ dành riêng một tỷ lệ nhất định cho cộng đồng, một tỷ lệ nhất định cho các khoản đầu tư sinh lãi, và sẽ chỉ tiêu với số tiền còn lại.
“Đừng tiết kiệm những gì còn lại sau khi chi tiêu mà hãy chi tiêu những gì còn lại sau khi tiết kiệm” - tỷ phú Warren Buffet.
10. Không để tiền hao hụt
Người giàu không bao giờ trả tiền cho những gì không cần thiết. Họ rất quan tâm đến các loại lệ phí, chi phí mà họ có thể tránh được.
"Hãy coi chừng các khoản chi phí nhỏ; một rò rỉ nhỏ cũng sẽ nhấn chìm một con tàu lớn" - Benjamin Franklin, chính trị gia, một trong những người lập quốc nổi tiếng nhất của Mỹ.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

A new Chinese export — recession risk

Is a global economic recession likely? If so, what might trigger it? Willem Buiter, Citi’s chief economist and the Financial Times’ erstwhile Maverecon blogger, answers these questions: “Yes” and “China”. His case is plausible. This does not mean we must expect a recession. But people should see such a scenario as plausible.

Mr Buiter does not expect world output to decline. The notion here is a “growth recession”, a period of growth well below the potential rate of about 3 per cent. One might imagine 2 per cent or less. Mr Buiter estimates the likelihood of such an outcome at 40 per cent.

His scenario would start with China. Like many others, he believes China’s growth is overstated by official statistics and may be as low as 4 per cent. This is plausible, if not universally accepted.

It might become even worse. First, an investment share of 46 per cent of gross domestic product would be excessive in an economy growing 7 per cent, let alone one growing at 4 per cent. Second, a huge expansion of debt, often of doubtful quality, has accompanied this excessive investment. Yet merely sustaining investment at these levels would require far more borrowing. Finally, central government, alone possessed of a strong balance sheet, might be reluctant to offset a slowdown in investment, while the shares of households in national income and consumption in GDP are too low to do so.

Suppose, then, that investment shrank drastically as demand and balance-sheet constraints bit. What might be the effects on the world economy?

One channel would be a decline in imports of capital goods. Since about a third of global investment (at market prices) occurs inside China, the impact could be large. Japan, South Korea and Germany would be adversely affected.

A more important channel is commodity trade. Commodity prices have fallen, but are still far from low by historical standards (see chart). Even with prices where they are, commodity exporters are suffering. Among them are countries like Australia, Brazil, Canada, the Gulf States, Kazakhstan, Russia and Venezuela. Meanwhile, net commodity importers, such as India and most European countries, are gaining.

Shocks to trade interact with finance. Many adversely affected companies are highly indebted. The resulting financial stresses force cutbacks in borrowing and spending upon them, directly weakening economies. Changes in financial conditions exacerbate such pressures. Among the most important are movements in interest and exchange rates and shifts in the perceived soundness of borrowers, including sovereigns. Changes in capital flows and risk premia and shifts in the policies of important central banks exacerbate the stresses. At present, the most important shift would be a decision by the US Federal Reserve to raise interest rates.

As Warren Buffett said: “You only find out who is swimming naked when the tide goes out.” According to the Bank of International Settlements, credit to non-bank borrowers outside the US totalled $9.6tn at the end of March. A strong dollar makes any currency mismatches costly. These may start on the balance sheets of non-financial corporations. But the impact will be transmitted via their losses to banks and governments. Thus, reversal of “carry trades”, funded by cheap borrowing, might wreak havoc.

A visible shift is a decline in foreign exchange reserves, driven by deteriorating terms of trade, capital flight and withdrawal of previous capital inflows. This might cause “quantitative tightening”, as central banks sell holdings of longer-dated safe bonds. This is one of the ways that these shocks might be transmitted to the high-income countries, including even the US. But this also depends on what the holders of the withdrawn funds do with it and on the policies of affected central banks.

What we might see, then, is a series of real and financial linkages: declining investment and output in China; weaknesses in economies dependent on that country’s purchases or on prices set by its buying; and reversals of carry trades and shifts in exchange rates and risk premia that stress balance sheets.

How might policymakers respond? China will surely let its currency fall rather than continue to lose reserves, not least because usable reserves are smaller than headline numbers, which include infrastructure investments in Africa and elsewhere that cannot quickly be sold. The policy space of other emerging economies is greater than in the past, but not unlimited. They will be forced to adjust to these shocks rather than resist them.

Meanwhile, the policy choices of high-income countries are restricted: politics has almost universally ruled out fiscal expansion; the intervention rates of central banks are near zero; and, in many high-income economies, private leverage is still quite high. If the slowdown were modest, nothing much might be done. The best response to a big slowdown might be “helicopter money”, created by the central bank to stimulate spending. But its use seems quite unlikely. The conventional rules.

In brief, a global growth-recession scenario “made in China” is perfectly plausible. If it were to happen, a decision by the Fed to tighten now would come to look downright foolish. We are not talking about the sort of disaster that accompanies a global financial crisis. But the world economy will remain vulnerable to adversity until China has completed its transition to a more balanced pattern of growth, and the high-income economies have recovered from their crises. That is still far away.
FINANCIAL TIMES
15-9-15

Martin Wolf

[Nghiên cứu] Thái độ làm việc mới là yếu tố dẫn tới thành công chứ không phải sự thông minh

  1. Các nhà khoa học đã chứng minh: Thái độ làm việc mới là yếu tố tiên quyết dẫn tới thành công trong công việc chứ không phải là mức độ thông minh.

    Nghiên cứu dẫn đầu bởi nhà tâm lý học Carol Dweck tại Đại học Stanford, người đã dành nhiều năm nghiên cứu mối liên hệ giữa thái độ và hiệu quả công việc. Trong nghiên cứu lần này, bà đã đưa ra kết luận rằng thái độ làm việc có thể được dùng để dự đoán sự thành công, chứ không không phải là chỉ số IQ.

    Cụ thể, giáo sư Dweck phát hiện rằng thái độ của con người thuộc một trong 2 trạng thái cốt lõi: nhận thức cố định (fixed mindset) và nhận thức phát triển (growth mind). Đối với nhận thức cố định, bạn tin rằng bạn là ai và bạn không thể thay đổi. Do đó khi đối mặt với những thử thách mới, bạn sẽ cảm thấy rằng mọi thứ vượt quá tầm kiểm soát của bạn, từ đó dẫn tới cảm giác tuyệt vọng và bị choáng ngợp.

    Những người có nhận thức phát triển lại tin rằng họ có thể cải thiện bằng sự nỗ lực. Họ làm việc hiệu quả hơn những người có nhận thức cố định ngay cả khi có chỉ số IQ thấp hơn họ chủ động nắm bắt thử thách, xem nó như một cơ hội để học được những thứ mới.

    Người ta thường nghĩ rằng có khả năng, có sự thông minh sẽ truyền cảm hứng cho sự tự tin. Điều đó chỉ đúng đối với công việc diễn ra một cách suôn sẻ. Yếu tố quyết định trong cuộc sống là cách bạn xử lý những thất bại và thách thức. Những người có nhận thức phát triển sẽ dang rộng vòng tay để chào đón sự thất bại.

    Theo giáo sư Dweck, sự thành công trong cuộc đời phụ thuộc vào cách bạn đối mặt với thất bại. Vậy người có nhận thức phát triển nghĩ gì về sự thất bại?, Bà cho biết: “Sự thất bại là một dữ liệu, chúng ta đặt tên nó là thất bại và nhưng hơn nữa, nó còn nói với chúng ta rằng “cách làm này không được và tôi là người giải quyết vấn đề, do đó tôi sẽ cố gắng làm một cái gì đó khác hơn."

    Làm thế nào để có nhận thức phát triển?

    Tuy nhiên, bất kể rằng bạn thuộc nhóm người nào thì bạn vẫn có thể thay đổi và hình thành nhận thức phát triển. Bên dưới đây là một số cách sẽ giúp điều chỉnh suy nghĩ của các bạn theo chiều hướng tốt:

    Đừng tỏ ra bất lực
    Tất cả chúng ta đều có những lúc cảm thấy bất lực nhưng vấn đề là làm thế nào đối mặt với cảm giác đó. Chúng ta có thể học học từ nó, vượt lên nó hoặc để cho nó kéo chúng ta lại phía sau. Rất nhiều người đã vượt qua được sự bất lực để gặt hái được thành công: Walt Disney đã từng bị đuổi việc vì thiếu trí tưởng tượng và không có ý tưởng, Henry Ford đã phá sản 2 công ty xe trước khi có được hãng Ford danh tiếng,… Nếu những người này có nhận thức cố định, họ sẽ từ bỏ hy vọng khi gặp khó khăn nhưng nếu họ thuộc nhóm còn lại, họ chẳng những không cảm thấy bất lực mà còn sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn để lật ngược tình thế.

    Không ngừng theo đuổi đam mê
    Warren Buffet: Xác định đam mê thật sự của bạn và không ngừng theo đuổi nó​

    Những người thành công luôn theo đuổi đam mê của họ. Đối với bạn, đó luôn là những người có sẵn tài năng hơn bạn. Vậy những gì bạn thiếu là tài năng và bạn có thể có điều đó bằng đam mê. Những người thành công luôn biết cách không nhừng theo đuổi đam mê của họ. Warren Buffet khuyên chúng ta nên xác định niềm đam mê thật sự bằng nguyên lý 5/25: viết ra giấy 25 điều mà bạn quan tâm nhất, sau đó gạch bỏ 20 thứ, 5 thứ còn lại chính là đam mê thật sự của bạn còn những thứ khác chỉ làm bạn mất tập trung.

    Hãy hành động, đừng đợi chờ
    Không phải những người có nhận thức phát triển vượt qua được nỗi sợ hãi vì họ dũng cảm hơn chúng ta. Đơn giản chỉ là họ biết rằng sự sợ hãi và lo âu sẽ làm tê liệt cảm xúc và cách tốt nhất để khắc phục tình trạng đó là hành động. Những người với nhận thức phát triển sẽ thành công và những người thành công thì không chờ đợi. Tại sao phải chờ đợi? Hãy hành động để biến tất cả những lo lắng và mối quan tâm của bạn về sự thất bại thành nguồn năng lượng tích cực, tập trung.

    Không được dừng lại
    Lý Tiểu Long: "Một người đàn ông phải luôn vượt qua giới hạn của bản thân."​

    Những người thành công luôn thực hiện điều này ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất. Họ luôn thúc đẩy bản thân tiến xa hơn. Chuyện kể rằng Lý Tiểu Long bắt cùng với các đồ đệ chạy với ông mỗi ngày 3 dặm. Ngày nọ, sau khi chạy xong 3 dặm, ông bắt họ chạy thêm 2 dặm nữa. Các đồ đệ đã mệt và nói rằng “Chạy 2 dặm nữa chắc chết.” Ông trả lời:

    “Hãy tiếp tục. Từ bỏ và bạn cũng có thể chết. Nếu bạn luôn đặt ra một giới hạn những gì mình làm được, về vật lý hay bất cứ thứ gì khác, thì bạn cứ dậm chân tại chỗ đối với tất cả mọi điều suốt cuộc đời bạn. Giới hạn đó sẽ lây lan vào công việc, vào đạo đức và toàn bộ cuộc đời bạn. Không hề có giới hạn, có những ngọn núi và bạn không được dừng lại mà phải vượt qua nó. Nếu nó có thể giết chết bạn, nó sẽ làm. Một người đàn ông phải liên tục vượt lên chính bản thân mình."

    Dự đoán kết quả tích cực
    Những người có nhận thức phát triển biết được luôn biết được họ sẽ thất bại nhưng họ không bao giờ đưa chúng vào danh sách kết quả. Hãy kỳ vọng những kết quả giúp tạo động lực và cảm xúc cho bạn giành chiến thắng. Cuối cùng, nếu bạn không nghĩ bạn sẽ thành công thì điều đó làm sao xảy ra được?

    Hãy linh động
    Mỗi người đều đối mặt với các nghịch cảnh xảy đến bất ngờ. Những người thành công, có nhận thức phát triển luôn biết cách tự định hướng để cải thiện vấn đề, lật ngược tình thế mà họ đang đối mặt. Khi một thách thức bất ngờ ập đến một người thành công, họ sẽ linh hoạt cho tới khi giành lấy thành quả.

    Đừng phàn nàn khi mọi thứ không như mong muốn
    Than là một dấu hiệu của nhận thức cố định. Một người có nhận thức phát triển luôn tìm kiếm cơ hội trong tất cả mọi thứ và do đó, không có chỗ cho sự phàn nàn.

    Hãy áp dụng vào những điều nhỏ nhất trong cuộc sống
    Bằng cách áp dụng những điều trên để xử lý những điều dù là nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày, bạn có thể tự hoàn thiện bản thân mình để thành công.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Muốn hiểu khủng hoảng Trung Quốc, cần phải biết chuỗi cung ứng toàn cầu

Sản xuất đang quay trở lại Mỹ và Châu Âu?

Trong vài tuần qua, rất nhiều tờ báo đã đưa tin về tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc, từ phá giá tiền tệ, suy thoái kinh tế tới thị trường chứng khoán “lao dốc không phanh”. Hầu hết các nhà kinh tế, bao gồm cả những chuyên gia IMF, đều cho rằng vẫn còn quá sớm để nói về một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nhưng một phần nguyên nhân có vẻ đến sự quá trình thay đổi chiến lược sản xuất đến gần thị trường mục tiêu của các công ty đa quốc gia.

Sản xuất đang quay trở lại Mỹ và Châu Âu?

Bằng chứng được đưa ra từ một loạt những các cuộc khảo sát được thực hiện bởi nhiều tổ chức khác nhau.

Năm 2012, Diễn đàn đổi mới Chuỗi cung ứng của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã thực hiện một cuộc khảo sát trực tuyến nhằm tìm hiểu những nhà sản xuất của Mỹ đang làm gì để đưa sản xuất trở lại Hoa Kỳ và những yếu tố nào thúc đẩy quá trình ra quyết định của họ. Đã có 156 công ty sản xuất của Hoa Kỳ tham gia khảo sát.

Kết quả cho thấy có 33,6% công ty cho rằng họ đang “xem xét”, trong khi có 15,3% công ty thì đảm bảo “chắc chắn” sẽ đưa sản xuất trở lại nước Mỹ. Cuộc khảo sát năm 2014 trên 89 công ty có trụ sở ở Mỹ và 33 công ty có trụ sở tại nước ngoài cũng cho kết quả tương tự.

Hơn thế nữa, cuộc khảo sát gần đây của AlixPartners trên các công ty sản xuất và phân phối hoạt động ở Bắc Mỹ và Tây Âu đều cho kết quả: quá trình dịch chuyển sản xuất ngày càng gia tăng. 32% công ty trả lời rằng họ gần như đang lên kế hoạch để sản xuất gần thị trường sở tại nhằm đáp ứng nhu cầu trong vòng 1-3 năm tới.

Một dấu hiệu khác cho thấy xu hướng sản xuất đến gần thị trường sở tại đang ngày càng gia tăng là thông qua Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI). Chỉ số này cho thấy sự thay đổi trong quá trình sản xuất (nếu là 50 có nghĩa không đổi, trên 50 thì sản xuất tăng, còn dưới là giảm).

PMI tại Trung Quốc tháng 8/2015 đạt 49,7 và tháng 7/2015 là 50. Trong khi đó, con số tương tự tại Mỹ là 51,1 vào tháng 8 và 52,7 vào tháng 7, dù tốc độ có giảm nhưng hoạt động sản xuất vẫn tăng trưởng tại Mỹ. Còn PMI tại Châu Âu là 52,2 vào tháng 8 và 52,3 vào tháng 07.

Nhìn chung, những con số này khắc họa bức tranh sụt giảm sản xuất tại Trung Quốc liên quan đến việc giảm nhẹ nhu cầu thị trường trong nước, đồng thời xu hướng chuyển dịch sản xuất đến gần thị trường sở tại.

Lý do thực sự khiến sản xuất rời bỏ Trung Quốc

Tất nhiên, việc đưa sản xuất trở lại Mỹ không đồng nghĩa với thêm nhiều việc làm tại đây hay Trung Quốc mất đi vị thế “công xưởng” toàn cầu. Tuy nhiên, xu hướng này đang cho thấy thế giới đang trong xu thế chuyển đổi: các công ty đang chuyển dịch chiến lược sản xuất toàn cầu của mình, từ việc sản xuất tập trung tại nước có chi phí rẻ, sang hướng tới tối ưu hóa sản xuất phù hợp với chiến lược theo vùng.

Ví dụ như sản xuất tại Trung Quốc là cho thị trường nước này; tại Mỹ (hay Mexico và các nước Latin) là phục vụ nhu cầu Châu Mỹ; còn tại Đông Âu là dành cho thị trường châu Âu.

Các cuộc khảo sát cho thấy, xu hướng này đang bắt đầu thịnh hành trong vài năm trở lại đây, không chỉ bởi áp lực đem việc làm trở lại Mỹ, mà còn bởi sản xuất gần thị trường sở tại có nhiều lợi thế nhờ:

1. Giá dầu: Xu hướng sản xuất sang các thị trường giá rẻ một phần lý do là giá dầu thấp. Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, giá dầu đã tăng gấp 3 lần. Kết quả là chi phí vận chuyển tăng lên đáng kể so với ước tính ban đầu. Dù giá dầu hiện tại đang giảm nhưng còn giá các mặt hàng khác, và sản lượng khí thiên nhiên giá rẻ tại Mỹ ngày càng tăng. Điều này có nghĩa là đối với một số ngành công nghiệp thì chi phí sản xuất tại Mỹ sẽ thấp hơn việc sản xuất tại Trung Quốc.

2. Chi phí nhân công: Trong vài năm qua, chi phí lao động tại Trung Quốc tăng 20%/năm, so với 3%/năm tại Hoa Kỳ và 5%/năm tại Mexico. Vì vậy, khi chi phí nhân công là lý do chính các công ty chuyển sản xuất sang Trung Quốc từ 5, 7 hay 10 năm trước thì chắc họ cần phải xem xét quyết định đó từ lúc này.

3. Tự động hóa: Cảm biến giá rẻ, tốc độ máy tính và các công nghệ mới này càng thân thiện, phù hợp cho tự động hóa sản xuất giúp tăng năng suất. Tăng năng suất lao động đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp giảm chi phí nhân công. Và cũng vì thế họ cần đến nguồn nhân lực tay nghề cao, hơn là chỉ có chi phí lao động thấp.

4. Rủi ro: Các công ty đa quốc gia trong vài năm vừa qua đã nhận ra rằng chiến lược gia công hay sản xuất cố định tại một nơi đang tiềm ẩn nhiều rủi ro về chuỗi cung ứng do sự đa dạng về địa lý; do đó mà có rất nhiều vấn đề tiềm tàng, dễ phát sinh trong quá trình sản xuất và vận chuyển.

Một ví dụ điển hình gần đây là vụ nổ tại một nhà kho ở Thiên Tân liên quan đến việc mang vật liệu nguy hiểm, trong đó có vẻ như đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc của công ty. Điều này đã dấy lên những lo ngại về mức độ an toàn tại các nhà máy tại đây, cũng như yêu cầu hành động đánh giá lại chất lượng của nhà cung cấp và sản xuất để tăng tính linh hoạt, giảm thiểu nhiều rủi ro từ phía công ty chủ quản.

Và cũng chính tình trạng rối loạn tại Trung Quốc hiện nay phần nào đẩy nhanh xu hướng sản xuất đến gần nước sở tại. Tuy nhiên, sự tác động sẽ khác nhau tùy ngành và tùy từng công ty.

Đối với các ngành công nghệ cao (ví dụ sản xuất máy tính xách tay và điện thoại di đông) thì việc tái tạo cơ sở hạ tằng tại nơi khác ngoài Trung Quốc thì có vẻ khó khăn. Trong khi đối với các công ty quần áo và giày dép thì có vẻ dễ dàng di chuyển đến các địa điểm sản xuất có chi phí thấp hơn. Các nhà máy sản xuất công nghiệp nặng như máy móc, xe hơi mà chi phí vận chuyển trở nên đắt đỏ thì tốt hơn là nên di chuyển sản xuất đến những nơi gần với thị trường có nhu cầu.

Kinh tế Trung Quốc đang gặp vấn đề gì?

TS. Phạm Sỹ Thành
Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc - VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, ĐHQGHN

Sau khi thị trường chứng khoán (TTCK) Trung Quốc mất hơn 30% giá trị vốn hóa vào tháng 7, đồng Nhân dân tệ (NDT) phá giá hơn 3% vào tháng 8 và các số liệu kinh tế vĩ mô đầy thất vọng vào tháng 9, các tranh luận về triển vọng kinh tế Trung Quốc trong ngắn và trung hạn lại trỗi dậy mạnh mẽ với hai câu hỏi phổ biến “Kinh tế Trung Quốc đang thực sự gặp vấn đề gì?” và “Liệu kinh tế Trung Quốc có sụp đổ hay không?”

Theo Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành, đối với Trung Quốc việc chuyển đổi sang trạng thái bình thường mới (New Normal) không chỉ gồm một hệ các chỉ số mới mà quan trọng hơn cả, họ cần có một thể chế kinh tế mới thực sự thị trường.

Ông Thành hiện là Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc (VCES), thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Giới thiệu góc nhìn của một chuyên gia trẻ, chúng tôi hy vọng tìm kiếm, trước hết, cách tiếp cận cho lời giải về chủ đề sâu sắc và phức tạp nói trên.

Chúng tôi mong sẽ tiếp nhận nhiều ý kiến và đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc về chủ đề này.

Phần 1: Những câu hỏi nhìn từ thể chế

Như để trả lời cho sự lo lắng của thị trường, tại Hội nghị các bộ trưởng tài chính của nhóm G20 diễn ra vào tháng 9, thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC ) Chu Tiểu Xuyên trấn an các nhà kinh tế của 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới rằng: “Hiện tại, tỷ giá hối đoái của đồng NDT đang đi vào ổn định, sự điều chỉnh của thị trường chứng khoán gần như đã kết thúc, và thị trường tài chính đang cho thấy hy vọng bình ổn… mức độ vay nợ trên thị trường đã giảm nhiều, và chúng tôi nghĩ không còn rủi ro hệ thống”.

Trong khi đó, cũng tại hội nghị này, Lâu Kế Vĩ – Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc – nói rằng Trung Quốc sẽ duy trì tăng trưởng quanh ngưỡng 7% trong vòng 4-5 năm tới.

Còn tại Diễn đàn Kinh tế Davos tổ chức tại Liêu Ninh (Trung Quốc) vào ngày 10/9, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cho rằng “Trung Quốc không phải nguồn gốc các rủi ro của kinh tế thế giới mà là một trong những động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu”.

Ông Lý Khắc Cường cũng không quên nhắc lại với thế giới những cải cách quan trọng mà Trung Quốc đã và sẽ tiến hành.

Nhưng có thể thấy, những phát biểu mang tính trấn an của những vị trí lãnh đạo kinh tế chủ chốt của Trung Quốc đều trả lời các vấn đề mang tính “kĩ thuật và tức thời” của kinh tế Trung Quốc.

Cùng thời điểm những phát biểu nêu trên được đưa ra, EuroCham đã gửi lên chính phủ Trung Quốc một bản “Kiến nghị của doanh nghiệp Châu Âu tại Trung Quốc” trong đó bày tỏ sự lo ngại trước tình trạng Trung Quốc “chỉ cải cách không mở cửa”.

Bản kiến nghị cho rằng, những tiến triển trong lĩnh vực cải cách thị trường hóa tại Trung Quốc đã diễn ra vô cùng chậm chạp, khiến cho các doanh nghiệp châu Âu đang làm ăn tại Trung Quốc bắt đầu “khủng hoảng niềm tin”.

Ông Joerg Wuttke – Chủ tịch EuroCham tại Trung Quốc – khẳng định “Liên minh Châu Âu chưa từng chứng kiến một đường hướng chính sách tràn ngập mâu thuẫn ở đó tồn tại đồng thời cả (việc tiến hành) cải cách và đóng cửa. Tôi vô cùng lo lắng về việc xu thế cải cách đã giảm đi”.

Sau 3 năm dưới sự lãnh đạo của thế hệ lãnh đạo thứ 5, câu hỏi quan trọng hơn cả đối với kinh tế Trung Quốc – cũng là điều Trung Quốc cần trả lời cho thị trường – là liệu các cam kết cải cách theo hướng kinh tế thị trường có được nước này thực thi đầy đủ hay không?

Những biện pháp cải cách thị trường hóa có mạnh mẽ như mức độ hùng hồn trong tuyên bố của chính phủ Trung Quốc hay không?

Bởi đối với Trung Quốc việc chuyển đổi sang trạng thái bình thường mới (New Normal) không chỉ gồm một hệ các chỉ số mới mà quan trọng hơn cả, họ cần có một thể chế kinh tế mới thực sự thị trường.

Trung Quốc đã chuyển đổi được 35 năm, quốc gia này cũng gia nhập WTO được 15 năm và đang vận động cho sự ra đời của RCEP, nên có rất ít lí do để nói rằng Trung Quốc chưa quen thuộc với hệ thống luật quốc tế. Nếu muốn trở thành người thay đổi luật chơi (rule-maker), Trung Quốc trước hết cần là người tuân thủ luật chơi (rule-taker). Đã đến lúc PBoC nói riêng và Trung Quốc nói chung cần chuyển từ ứng xử theo “thuật” (thói quen cá biệt) sang theo “đạo” (luật lệ, thông lệ quốc tế).

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Cảng Hòn Khoai là chỉ dấu cho việc xây Kênh đào Kra?

Bàn tán về tuyến đường biển có thể sắp được xây dựng vẫn còn chưa kết thúc. Kênh đào Kra, nếu được hiện thực hóa, sẽ được xây cắt ngang eo đất Kra của Thái Lan, cho phép tàu thuyền không phải đi qua Eo biển Malacca cũng như trung tâm cảng Singapore.

kra

Ý tưởng lâu đời về một kênh đào nối thẳng Vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương như vậy đang vấp phải nhiều nhạy cảm địa-chính trị khu vực. Các tiến triển gần đây cho thấy sự nhạy cảm gia tăng khi liên quan đến cả quan hệ Trung– Mỹ. Điều này càng rõ ràng hơn sau khi truyền thông Trung Quốc loan tin vào tháng 5 rằng Trung Quốc và Thái Lan đã ký một bản ghi nhớ tại Quảng Châu để xây dựng kênh đào Kra với chi phí khoảng 28 tỷ đô la Mỹ. Giới chức hai nước nhanh chóng bác bỏ thông tin trên chỉ trong vài ngày.

Tuy nhiên, điều đó không ngăn được những đồn đoán rằng dự án vẫn sẽ được triển khai.

Ngay tháng sau đó, Việt Nam tuyên bố sẽ xây một cảng biển nước sâu trị giá 2,5 tỷ đô la tại đảo Hòn Khoai, khoảng 17km ngoài khơi bờ biển Cà Mau – tỉnh cực nam của Việt Nam. Dự án đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thông qua.

Nhìn sơ qua, mọi mối liên hệ giữa Cảng Hòn Khoai và Kênh đào Kra mà giới tinh hoa chính trị và doanh nghiệp Thái Lan rất mong muốn – sẽ không rõ ràng. Nguyên do là cảng này đã được đặt trong một vấn đề bao trùm hơn là quyết định gia tăng nhập khẩu than để phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng lớn của Việt Nam.

Thật vậy, một bài báo của tờ Wall Street Journal đã chỉ đích danh Indonesia và Australia nằm trong số bốn nhà cung cấp năng lượng “hứa hẹn nhất” của Việt Nam, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ. Nằm ngay giữa Vịnh Thái Lan và Biển Đông, Cảng Hòn Khoai có vị trí đắc địa để nhận hàng hóa từ Indonesia và Australia. Song quyết định xây dựng cảng không thực sự mang ý nghĩa kinh tế – cho đến khi kênh đào Kra mang lại cho cảng này một lượng tàu thuyền thương mại dồi dào.

Dự án đã trải qua hai lần thiết kế, song cả hai đều nhằm đáp ứng cả các loại hàng hóa khác bên cạnh than.

Thiết kế hiện tại là kết quả của một nghiên cứu khả thi được thực hiện bởi Tập đoàn Bechtel – công ty kiến trúc và xây dựng lớn nhất Hoa Kỳ, trong một thỏa thuận ký với doanh nghiệp Việt Nam là Vân Phong. Thiết kế này bao gồm 12 cầu cảng dự kiến, một nửa trong số đó sẽ được dùng cho nhập khẩu các mặt hàng khác ngoài than.

Thiết kế trước đó, do Cục Hàng hải Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp Úc N&M Commodities, dự kiến có tới 24 cầu cảng mà chỉ một nửa trong đó phục vụ cho nhập than. Phần còn lại phục vụ nhập khẩu hàng hóa, container, xăng dầu, khí hóa lỏng và các loại tàu Ro/Ro được thiết kế phục vụ vận chuyển hàng hóa có bánh xe – tức các mặt hàng sẽ đi qua Kênh đào Kra đến từ tận những nơi như Trung Đông và Châu Âu.

Nếu thỏa thuận hiện nay với Bechtel được thông qua, Cảng Hòn Khoai sẽ đóng dấu lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ ngay tại trung tâm của bức tranh địa-kinh tế được định hình bởi sự biến đổi quyền lực mà Kênh đào Kra mang lại. Cùng với ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ thông qua Bechtel, Cảng Hòn Khoai được cho là sẽ được tài trợ 85% vốn bởi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Ex-Im Bank). Ex-Im Bank là một cơ quan tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Mỹ.

Vai trò của Bechtel và Ex-Im Bank gần như là dấu hiệu cho động thái chiến lược của Hoa Kỳ nhằm đảm bảo nước này không bị gạt ra khỏi kiến trúc kinh tế châu Á được định hình bởi Trung Quốc.

Huyết mạch quan trọng cho Trung Quốc

Kênh đào Kra không chỉ biến Thái Lan trở thành một trung tâm hàng hải khu vực có thể lấn át các cảng trung tâm dọc eo biển Malacca của Singapore và Malaysia. Nó còn có vai trò như một huyết mạch quan trọng trong Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc mà giờ đây là một phần trong kế hoạch “Một vành đai, một con đường” của nước này.

Nếu có sự tham gia của Trung Quốc thì chắc chắn Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) mới thành lập – được thiết kế để tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn – sẽ cân nhắc dự án này. Các thảo luận đượm màu dân tộc chủ nghĩa trên các cộng đồng ảo có ảnh hưởng của Trung Quốc như Thiết Huyết Luận Đàm (Tiexue Luntan) đã kêu gọi AIIB tiếp sức cho giấc mơ lâu đời của Thái Lan là xây dựng Kênh đào Kra.

Rốt cục, mối liên hệ giữa Kênh đào Kra và Cảng Hòn Khoai sẽ chỉ là phỏng đoán đơn thuần nếu truyền thông Việt Nam đã không đưa tin về dự án cảng này cùng lúc với cuộc họp Nội các chung Việt Nam – Thái Lan lần thứ ba được tổ chức tại Bangkok vào tháng 7 vừa qua.

Đáng chú ý, kết quả của cuộc thảo luận mới nhất giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha là một tuyên bố nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp Quốc về luật Biển năm 1982, cũng như thúc đẩy đối thoại và tham vấn để đạt được Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông.

Kênh đào Kra của Thái Lan và cảng Hòn Khoai của Việt Nam giờ đây cùng nằm trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung đối với các dự án hợp tác kinh tế tại ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc tìm cách giành vị thế lãnh đạo khu vực – ít nhất là trong lĩnh vực kinh tế; còn Mỹ thì “tái cân bằng” sang châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng của mình. Do cả hai dự án đều kề cận với Biển Đông – nơi mà căng thẳng Mỹ – Trung đang được bộc lộ tại đây – kênh đào Kra và cảng Hòn Khoai cần được nhìn nhận trong một bối cảnh trật tự khu vực rộng lớn hơn được sắp đặt bởi hai cường quốc này.

Graham Ong-Webb là nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Singapore.

Nguồn: Graham Ong-Webb,  “New Viet port a clue to Kra Canal?”, The Straits Times, 20/08/2015.

Biên dịch: Nguyễn Thùy Giang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/09/14/cang-hon-khoai-kenh-dao-kra/#sthash.vHeMsE1S.WSa41QGy.dpuf

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Quá khứ đến tương lai - Thay đổi để hùng cường

Tháng 09/2015, nhiều sự kiện đáng nhớ diễn ra ở Việt Nam và thế giới.

Ngày 02/09/2015, Việt Nam tổ chức lễ diễu binh hoành tráng kỷ niệm 70 năm quốc khánh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nếu định danh theo cách phân loại của Cộng hòa Pháp, thì đây là nền đệ nhất cộng hòa của Việt Nam thời cận đại. Quốc gia này từng có một bản hiến pháp khá dân chủ, vì vào thời điểm soạn thảo nó năm 1946, ông Hồ Chí Minh đã bê nguyên xi nhiều điều khoản trong hiến pháp của các nước Pháp, Mỹ vào tham khảo, cũng giống như ông khéo léo mượn vài câu trong các áng hùng văn bất diệt của Tuyên ngôn độc lập Mỹ hay Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng Hòa Pháp để đưa vào trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 của người Việt Nam:

- Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc (Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776)
- Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791)

Cho đến tận ngày nay, những ý tưởng từ những áng hùng văn trên vẫn là lý tưởng và cảm hứng bất diệt của nhân loại cho một xã hội ngày một văn minh xét trên bình diện toàn cầu.

Năm 1945, ông Hồ là người Việt Nam tài ba lỗi lạc nhất trong số tất cả những người Việt cùng thời đại. Đây là một thực tế không thể phủ nhận. Ông có 30 năm lăn lộn ở nước ngoài. Ông từng sang Mỹ, Pháp, Anh và nhiều nước khác trên thế giới. Ông từng hoạt động nhiều năm tại Nga, Trung Quốc và Hồng Kong. Nói theo thuật ngữ ngày hôm nay, ông là người Việt được "nối mạng" với hệ thống internet toàn cầu sơ khai vào thời điểm đó. Cuộc đời chìm nổi của ông ở nhiều quốc gia khiến ông có sự trải nghiệm khác thường về nhiều thể chế. Sai lầm lớn nhất của ông Hồ là khi ông đọc bản luận cương "Dân tộc và thuộc địa" của Lê Nin, lần đầu tiên vào năm 1920. Đó là tài liệu duy nhất ở phương tây ông tìm thấy nói về vấn đề giải phóng dân tộc. Ông Hồ lạc vào quỹ đạo cộng sản một cách vô thức do cái bẫy của ngôn từ. Cả cuộc đời ông chưa bao giờ đọc hết bộ Tư Bản Luận, thế nhưng ông lại được gán cho cái mác của một nhà cộng sản lão thành cho đến lúc qua đời. Ông từng bị Stalin giam lỏng tại Mouscou vì cho rằng ông chỉ là một tay cơ hội chứ không phải người cộng sản. Ông là người sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam vào 03/02/1930 và là tác giả bản chính cương vắn tắt nổi tiếng trong lịch sử Đảng, thế nhưng sau đó Stalin đưa Trần Phú và Hà Huy Tập về nước, gạt toàn bộ vai trò của ông Hồ vì nhận định ông là một tay cộng sản chệch hướng và sai lầm, chỉ chăm chăm độc lập dân tộc mà thiếu tinh thần giai cấp. Trần Phú lên làm Tổng bí thư đầu tiên của ĐCS, sau đó ban hành một điều lệ Đảng trong đó phê phán nặng nề tư tưởng của ông Hồ. Sau khi đào thoát ngoạn mục khỏi mật vụ Pháp tại Hồng Kong (Với sự trợ giúp của những nhà dân chủ điển hình như luật sư Frank Loseby), năm 1934 ông trốn về Liên Xô và bị Stalin giam lỏng năm năm tại Mouscou. Năm 1938, ông kiếm cớ đào thoát về Diên An, căn cứ đầu não của ĐCS Trung Quốc. Sự kiện này đánh dấu một bi kịch khác trong sự nghiệp của ông Hồ, ở đây ông gặp nhiều lãnh tụ cộng sản TQ. Những mối liên hệ cá nhân của ông trong thời kỳ này đã dẫn đến một bi kịch lớn của người Việt Nam về sau này, khi ông Hồ đưa phong trào dành độc lập của người Việt Nam gắn với quỹ đạo cộng sản vào năm 1949. Nền đệ nhất cộng hòa của Việt Nam đã sơ khai thành hình và nhanh chóng diệt vong khi ông Hồ công cán Trung Quốc vào đầu năm 1950. Ông thành công đặt quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô, kiếm được nguồn viện trợ vũ khí và cố vấn để đánh thắng người Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng cũng chính chuyến đi này đã giết chết bản hiến pháp được soạn thảo năm 1946, hiến pháp văn minh nhất mà người Việt Nam có được tính đến thời điểm này. Ông Hồ đưa người Việt Nam đến một chiến thắng có tính chiến thuật, nhưng lại thua về chiến lược nếu xét về lợi ích toàn cục của dân tộc. Sau thời điểm này, sự nghiệp của ông Hồ chỉ còn là một chuỗi sự kiện gắn cuộc chiến ý thức hệ đẫm máu và những quyết sách cai trị sai lầm, cả trong trị quốc, bồi đắp nhân tài và lựa chọn người kế nghiệp.

Nền đệ nhị cộng hòa của Việt Nam, đáng ra có cơ hội được thiết lập bởi Bảo Đại, vị vua cuối cùng của vương triều nhà Nguyễn. Ngày 11/03/1945, Bảo Đại tuyên cáo "Việt Nam độc lập" sau khi Nhật đảo chính Pháp và trao trả độc lập cho Việt Nam. Ông giao việc thành lập chính phủ cho Trần Trọng Kim, một giáo sư sử học yêu nước nhưng không có kinh nghiệm hoạt động chính trị. Chính phủ mới chưa kịp soạn thảo một bản hiến pháp cho riêng nó thì bị lật đổ bởi phong trào cách mạng của ông Hồ ngày 19/08/1945. Năm 1947, Bảo Đại có cơ hội thứ hai để lập nên nền đệ nhị cộng hòa. Ngày 7/12/1947, Bảo Đại ký với Pháp hiệp ước Vịnh Hạ Long, theo đó sẽ dẫn tới sự thành lập Quốc Gia Việt Nam trên cơ sở độc lập, thống nhất nằm trong khối Liên Hiệp Pháp. Chính Phủ mới cũng không có hiến pháp mà chỉ có một hiến chương lâm thời, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng lần đầu tiên được chọn làm quốc kỳ và nó còn gắn với một giai đoạn lịch sử của Việt Nam mãi về sau này. Dù có nhiều cơ hội được trao tặng do vị thế thiên nhiên được đặt vào vai trò lãnh tụ ở Việt Nam (Vị vua cuối cùng của vương triều chính thống cuối cùng trong lịch sử Việt Nam), được người Pháp đào tạo từ nhỏ, nhưng Bảo Đại không vượt qua được chính mình vì cuộc sống nhung lụa từ bé không cho phép ông trở thành một lãnh tụ phù hợp thời đại. Bảo Đại có lẽ là một người tử tế nhưng không có khả năng để đảm nhận vai trò lãnh tụ.

Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm thành lập chính thể Việt Nam Cộng Hòa, có ranh giới từ vĩ tuyến 17 hất vào Nam, sau đó ông được bầu làm Tổng Thống. Về một khía cạnh nào đó, ông Diệm đã lập nên nền Đệ Nhị cộng hòa của Việt Nam, sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được ông Hồ lập nên và chính tay bóp chết khi gia nhập quỹ đạo cộng sản sau năm 1950. Lúc này đất nước đã lâm vào một cuộc chiến ủy nhiệm khốc liệt, khi người Việt hai miền được nước ngoài trang bị vũ khí lao vào cuộc bắn giết kéo dài 20 năm. Năm 1975, do có ưu thế hơn về khả năng chiến tranh và động viên con người bằng bàn tay sắt, miền Bắc chiến thắng, đánh chiếm toàn bộ miền Nam và lập ra nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dưới sự cai trị độc tôn của Đảng Cộng Sản. Cả nền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa trong lịch sử Việt Nam đều bị nối nhau bóp chết. Bản hiến pháp mới ra đời, đè bẹp mọi tiến bộ của hiến pháp 1946 và hiến pháp 1955 (ở miền nam Việt Nam), đưa Việt Nam vào một thời kỳ cai trị bởi chế độ độc tài và dẫn đến 30 năm tụt hậu so với thế giới văn minh về sau này.

Những nét khái quát trên là bức tranh toàn cảnh về lịch sử. Nó là sự tồn tại khách quan, không phải để chê bai hay phủ nhận. Đối với người Việt Nam hiện nay, chúng ta buộc phải nhìn nhận và thừa nhận khuôn khổ hiến pháp và pháp luật đang được lập ra trong nước, được bảo đảm hiệu lực thi hành bằng súng đạn và nhà tù của một chế độ cai trị độc tài.

Năm 1986, khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng nặng nề, Đảng Cộng Sản Việt Nam tìm kiếm con đường đổi mới. Điều đáng tiếc nhất đối với lịch sử Việt Nam, là bối cảnh lịch sử lúc ấy không dẫn tới sự giải tán của chế độ độc tài như đã diễn ra ở Ba Lan và nhiều nước Đông Âu. Bộ máy lãnh đạo Việt Nam ở thời điểm 1986 và đầu những năm 1990 có nhiều con người còn thực sự sống với động cơ lý tưởng. Họ thiếu kiến thức về quản trị quốc gia, thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu tầm nhìn xa nhưng ít nhiều họ thực lòng muốn cống hiến cho đất nước. Việt Nam mò mẫm đi theo mô hình Trung Quốc, giữ lại sự cai trị độc tài và áp dụng mô hình kinh tế thị trường. Lợi ích kinh tế được tạo ra nhưng quyền lực không được giám sát (Ai có thể giám sát độc tài) đã dẫn tới nạn tham nhũng lan tràn và làm băng hoại hệ thống chính trị. Năm 2015, Việt nam được cai trị bởi một hệ thống quan chức độc tài giàu nứt đố đổ vách. Người ta không còn nói tới việc ai là lãnh đạo giỏi hơn ai mà chỉ còn đánh giá ai thủ đoạn hơn ai, và phe cánh nào nhiều thế lực hơn trong nền chính trị Việt Nam. Hệ thống chính trị không còn người tốt, chỉ còn phe cánh và lợi ích nhóm. Và người Việt Nam không có sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, mà chỉ có sự lựa chọn giữa cái xấu và cái xấu nhiều hơn. Nguồn lực quốc gia bị triệt tiêu vào những lỗ đen tham nhũng, theo cách nói của chuyên gia World Bank thì "Đây là một quốc gia không chịu phát triển", hiểu theo nghĩa nó có thừa đủ mọi yếu tố và thời cơ để vươn lên thoát khỏi thế giới thứ ba, nhưng nó cứ dậm chân và mãi nhàng nhàng trong một mức phát triển dưới trung bình. Chớ trêu thay, người ta giờ đây không còn bàn tới việc bao giờ Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan, Malaysia, Indonesia (vượt Singapore thì chỉ còn nằm trong giấc mơ đẹp nhất của người Việt), mà người ta đang nói tới nguy cơ Việt Nam bị Campuchia và Lào vượt mặt, một viễn cảnh gần. Vì đâu nên cớ sự này???

Trong thiên Lãng luận "Thoát Khựa Luận" http://langlanhtu.blogspot.com/2014/05/thoat-khua-luan.html anh Lãng từng phân tích ý nghĩa cốt tử của một thể chế tiến bộ đối với vận mệnh quốc gia. Lịch sử Việt Nam không có Minh Trị Thiên Hoàng (Nhật Bản), không có Park Chun Hee (Hàn Quốc), không có cha con họ Tưởng (Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc - Đài Loan); không có Lý Quang Diệu (Singapore). Chúng ta chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam, vì thế mà giờ đây chúng ta đi sau các quốc gia và vùng lãnh thổ được nhắc đến phía trên từ 100 - 200 năm xét về trình độ phát triển. Chúng ta có độc tài thay vì một xã hội tự do, nên chúng ta đi sau Thái Lan, Malaysia, Indonesia 30 - 40 năm về trình độ văn minh. Và ngày nay thì Campuchia, Mianma đang chuyển mình mạnh mẽ và khả năng những quốc gia này vượt mặt Việt Nam không còn là chuyện quá xa vời.

Phải làm gì? Cần làm gì? Nên làm cái gì???

Giải pháp lớn nhất mà phe dân chủ hải ngoại (mà nhiều đại diện của nó hành xử với những ý kiến bất đồng cũng chẳng khác gì lắm phe cộng sản, điển hình như việc RFA sa thải ông Lê Diễn Đức vì ông này phỉ báng Việt Tân và Việt Nam Cộng Hòa) đưa ra là xóa bỏ chế độ cộng sản. Mục tiêu này rất đẹp, nhưng xóa bỏ cách nào một bộ máy cai trị chặt chẽ với khoảng 3,6 triệu Đảng viên, gắn kết với nhau bởi lợi ích chia chác từ một chính thể độc tài và được bảo vệ bởi một đội ngũ an ninh và quân đội hơn nửa triệu người??? Sự đấu tranh sắt máu ngay và luôn chỉ dẫn tới bạo loạn và hoang tàn. Tự do có thể đến tiếp sau nhưng đó sẽ là viễn cảnh sau vài chục năm tan hoang, và Trung Quốc thì đang lăm le chỉ chờ Việt Nam loạn lạc để xâm lược như những gì chúng đã làm năm 1958, 1974 và 1988. Iraq, Syria, Libya là những ví dụ sống động và đắt giá.

Giải pháp lớn nhất mà phe Cộng Sản (nên gọi đúng hơn là tập đoàn lợi ích độc tài) và các dư luận viên của nó đưa ra, là người Việt Nam cần tuyệt đối tin tưởng vào con đường lãnh đạo của Đảng. Đi theo con đường này, Việt Nam ngày một tụt hậu, đạo đức xã hội ngày một suy thoái, bất bình đẳng ngày càng tăng, môi trường ngày một bị hủy hoại, tài nguyên bị tận thu và bán bằng hết đến mức cạn kiệt, tham nhũng ngày một nặng nề và thậm chí ăn sâu vào cả lực lượng quân đội khiến khả năng bảo vệ tổ quốc ngày một giảm. Trong số các quốc gia trên thế giới, giờ chỉ còn một số ít nước quân đội được trực tiếp làm kinh tế như ở Việt Nam, và tham nhũng khi giới có súng được làm ăn thì vô cùng tệ hại và không thể kiểm soát. Đó cũng là con đường ngắn nhất và nhanh nhất làm tha hóa lực lượng vũ trang và suy giảm khả năng bảo vệ quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bị đe dọa nặng nề về chủ quyền. Sớm muộn cái kết của con đường này là nghèo đói và hoang tàn, mất cả tương lai và thậm chí mất luôn chủ quyền lãnh thổ.

Cả hai giải pháp, đều chỉ dẫn Việt Nam đến hoang tàn và biển máu.

Khi không có một hệ thống chính trị tiên tiến dẫn đầu, mỗi công dân cần thức tỉnh vai trò và làm nhiệm vụ của mình. Bởi nếu điều đó không diễn ra, sớm muộn người Việt Nam sẽ thấy con cháu mình có tương lai giống như cậu bé 3 tuổi Aylan Kurdi, nằm dài trên cát trên một bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ, bi kịch thuyền nhân và hoang tàn thập kỷ 1970 và 1980 là một ám ảnh lẩn khuất đối với lịch sử Việt Nam (Thiên Lãng luận Bức ảnh thay đổi thế giới:  http://langlanhtu.blogspot.com/2015/09/alan-kurdi-mot-cai-ten-la-lam-voi-hau.html )

Xóa bỏ Đảng Cộng Sản là một con đường ngắn nhất dẫn tới bạo loạn và nhà tù. Đó cũng là một con đường trái với pháp luật hiện hành ở Việt Nam. Đứng trên phương diện một người thực tế, anh Lãng không bao giờ cho rằng giải pháp giật sập cái nhà duy nhất mình đang có trước khi xây dựng được ngôi nhà mới là một lựa chọn khôn ngoan.

Giải pháp duy nhất, là người Việt Nam cần tin ở chính mình, thức tỉnh ý thức công dân trong phạm vi hiến pháp hiện hành để đấu tranh cho sự tiến bộ dần của xã hội.

Từ một thực tế phổ quát ở Việt nam, ở đâu mà dân trí thấp thì bộ máy chính quyền thả sức chà đạp người dân (Nhiều vùng nông thôn sưu cao thuế nặng còn hơn thời Pháp thuộc). Ở những vùng miền mà dân trí cao hơn, người dân có khả năng sử dụng và chia sẻ thông tin trên internet thì khả năng đàn áp của hệ thống chính quyền độc tài kém hiệu quả hơn. Nhiều lúc, nó buộc phải thừa nhận sai lầm và sửa đổi chính sách. Ngay từ thực tiễn nạn mãi lộ giao thông trong hệ thống CSGT toàn quốc, ở những nơi mà người dân có hiểu biết tốt về luật pháp, tận dụng được công nghệ để ghi hình làm bằng chứng khi tranh luận, phần lớn trường hợp CSGT đều không kiếm được tiền, thậm chí nhiều trường hợp còn buộc phải bị kỷ luật khi bằng chứng sai phạm được đăng trên mạng. Trong vấn nạn về kiện tụng đất đai, khái niệm dân oan thường tập trung ở những người nông dân ít học, khi bị đẩy vào đường cùng, họ chỉ còn mỗi con đường màn trời chiếu đất khiếu kiện và trưng biển "dân oan" trong nỗ lực tuyệt vọng tìm kiếm sự công bằng. Một số trường hợp chọn con đường phản đối cực đoan, như ông Đoàn Văn Vươn, dùng súng để bảo vệ tài sản mồ hôi nước mắt của mình, chống lại lực lượng đông nghịt công an vũ trang tận răng đến cướp đất. Dù được thừa nhận oan khuất, nhưng ông Vươn vẫn phải chịu bản án 5 năm tù, cặm cụi cải tạo mong sớm được về nhà và mới được thả tự do nhân dịp quốc khánh 2015. Cho đến tận lúc ông Vươn ra tù, người ta vẫn không thể trả lời câu hỏi tại sao những người nông dân chỉ có động cơ duy nhất là được sống và làm ăn yên ổn ấy lại bị buộc phải cầm súng và cuối cùng ném vào tù??? Một chế độ đẩy người dân lương thiện đến chỗ phạm pháp và bỏ tù họ thì không thể có lý do tồn tại mà không thay đổi. Sự kiện của ông Vươn không vô nghĩa. Nó làm thay đổi rất lớn đường lối của Đảng Cộng Sản về chính sách đất đai được quy định trong luật đất đai năm 1993. Xét về ý nghĩa nào đó, đó là một mốc dấu đóng góp vào sự tiến bộ xã hội ở Việt Nam.

Chúng ta trở lại với con đường duy nhất đúng để tìm đường phát triển cho quốc gia: Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh - Tôn chỉ của nhà tư tưởng lớn Phan Châu Trinh, phát động từ năm 1906 với phong trào Duy Tân ở Việt Nam. Con đường để chấn hưng dân trí không dễ dàng, thậm chí là không thể vội vàng, nhưng nó là thứ duy nhất đúng với thời đại.

Mỗi người Việt Nam do đó cần phải làm gì? Các bạn cần trả lời câu hỏi này: Đã bao giờ mỗi người Việt Nam tốt nghiệp đại học đọc trọn vẹn hết một lần "Hiến Pháp" nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam??? Ngoài những người chuyên nghiên cứu luật pháp, câu trả lời chắc chắn là "Không" với 99% những người biết đọc biết viết tại Việt Nam. Người Mỹ có thể không cần đọc hiến pháp nước họ, người Pháp có thể không quan tâm đến hiến pháp hiện hành, người Anh, người Nhật cũng vậy. Nền chính trị ở những quốc gia này đủ tiến bộ để xã hội có sự giám sát tốt về quyền lực, khiến bộ máy cai trị buộc phải hành xử trong phạm vi hiến pháp và pháp luật. Nhưng với một quốc gia bị cai trị bởi chính thể độc tài, thì người dân, đặc biệt là những người có hiểu biết, không thể không đọc hiểu hiến pháp quốc gia. Các bạn không thể và không cần phải đọc hiểu hết các văn bản quy phạm pháp pháp luật, nhưng các bạn buộc phải đọc hiểu toàn văn hiến pháp hiện hành ít nhất một lần, đủ để nắm được các quyền cơ bản của mình. Nếu bạn chưa làm điều đó bao giờ, thì đây là điều bạn cần làm ngay vào lúc này:

Toàn văn hiến pháp Việt Nam năm 2013: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toan-van-hien-phap-nuoc-chxhcn-viet-nam-201311281149826.htm

Khen ngợi hay phỉ báng hiến pháp này đều là một điều thừa. Mỗi người Việt Nam cần chấp nhận nó vì nó là sự tồn tại thực tế; tránh xa cái xấu và cố gắng vận dụng cái tốt chứa đựng trong nó, hành động với ý thức công dân và trách nhiệm với đất nước, với mục tiêu cao nhất là cải biến xã hội, khiến quyền lực độc tài bị kiểm soát bởi sức mạnh toàn dân, từ đó đặt nền tảng cho sự tiến bộ xã hội.

Mỗi người Việt Nam, ngay từ lúc này, hãy đọc kỹ Chương II Hiến Pháp năm 2013, quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đọc hiểu và vận dụng được những điều khoản hiến định này, là công cụ lớn nhất và mạnh nhất của chính các bạn để thúc đẩy xã hội. Nếu chính các bạn không chịu hiểu và phấn đấu cho những quyền hiến định của mình, thì ai sẽ làm điều đó thay cho các bạn?

Có ba phong trào mà người Việt cần làm.

Phong trào đầu tiên, do đó, là phong trào đọc hiểu hiến pháp. Khi 30% người Việt Nam đọc và hiểu được những điều cơ bản của Chương II hiến pháp năm 2013, anh tin chắc đất nước sẽ bắt đầu có sự thay đổi. Sự hiểu biết cơ bản về quyền và nghĩa vụ công dân của mỗi cá nhân, tự nó sẽ trang bị cho người Việt Nam những kiến thức và giải pháp. Mỗi người sẽ hiểu về các quyền bất khả xâm phạm theo hiến định của mình và từ đó sẽ biết cách bảo vệ chính mình và bảo vệ xã hội.

Phong trào thứ hai, là phong trào giám sát xã hội nhờ lợi thế mà internet mang lại. Chúng ta có thể nhìn sang Trung Quốc. Dù Tập Cận Bình tiến hành cuộc đại thanh trừng hệ thống chính trị chỉ nhằm thâu tóm quyền lực, nhưng không thể phủ nhận rằng hàng triệu quan chức tham nhũng Trung Quốc đã bị trừng phạt và tống vào tù. Bên cạnh các đòn triệt hạ do phe phái đánh nhau, thì chính người Trung Quốc đang góp phần rất tích cực vạch mặt các quan chức tham nhũng để dẫn tới nhà nước buộc phải vào cuộc điều tra vì đã trót phát động phong trào chống tham nhũng. Hầu hết các quan chức Trung Quốc bị hạ bệ đều bắt nguồn từ việc các bằng chứng về lối sống vô đạo đức (bồ nhí, ăn chơi trụy lạc) hoặc sở hữu tài sản khủng bị tung hê lên mạng. Người Việt Nam cần phải học tập điều này. Bất kể việc chống tham nhũng là giả hay thật ở Việt Nam (anh Lãng không bình luận), thì về mặt công khai, hệ thống chính trị Việt Nam vẫn đang tuyên truyền về một cuộc chiến chống tham nhũng. Mỗi người Việt Nam hãy góp củi để đống lửa cháy thêm to. Một bức ảnh chụp quan chức ăn chơi, một bức hình chụp tài sản khủng của quan chức và con cháu chúng được công bố công khai trên facebook và các trang mạng xã hội đều sẽ góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Các bạn có công cụ, có khả năng và có quyền tự do ngôn luận để làm điều đó. Nếu chưa từng nghĩ đến thì hãy bắt đầu, nếu chưa từng làm thì hãy bắt đầu làm.

Phong trào thứ ba, là phong trào chấn hưng dân khí. Mỗi người Việt Nam cần có niềm tự hào là một công dân có ý thức với xã hội, là người sẽ đặt nền tảng cho một xã hội văn minh cho thế hệ kế tiếp. Nâng cao tri thức để tăng hiểu biết mỗi ngày, tập thể dục để khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, yêu thiên nhiên, tham gia các hoạt động xã hội để tránh xa những thói quen giải trí tầm thường dẫn tới suy thoái cả về sức khỏe và đạo đức. Không thể có một đất nước nghèo hèn nếu 30% người Việt Nam đều hành động và suy nghĩ theo lối tư duy này.

Con đường để thúc đẩy xã hội, khiến đất nước giàu mạnh, không nằm ở đâu xa mà ở chính mỗi người.
https://www.facebook.com/notes/10203639813995954/

Hòa bình của nấm mồ


alt

Nguyễn Văn Thiệu và Henry Kissinger

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979
Phạm Thị Hoài (dịch)

SpiegelThưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để "bóp nát trái tim Hoa Kỳ". Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi. 

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

SpiegelKissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

SpiegelKissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ - trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam. 

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

alt

Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại cuộc họp ở Midway 1969

SpiegelVậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

SpiegelKhi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

SpiegelVà ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình. 

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía...

Spiegel... và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

SpiegelMỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

SpiegelÔng đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: "Việt Nam hóa chiến tranh". Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc "phi Mỹ hóa" cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: "Hãy giúp chúng tôi giúp ông." Tôi đáp: "Tôi giúp ông giúp chúng tôi." Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

SpiegelNhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

SpiegelỞ thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

SpiegelCó lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng "đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác." 
Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân. Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết. 

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: "Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận." Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

SpiegelCó lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

SpiegelÔng có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: "Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?"

SpiegelÔng ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

SpiegelNhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng "lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất."

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao. 

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ? 

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì? 

SpiegelVậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

SpiegelKissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

SpiegelVề vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: "Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!" Hoặc: "Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ." Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi. 

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: "Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về." Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: "Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ."

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói "Không", nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

SpiegelBây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

SpiegelVì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

SpiegelKissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

SpiegelTinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

SpiegelKissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

SpiegelTức là ông đã thông báo cho họ?

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: "Nhát như cáy". Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

SpiegelMột điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

SpiegelKissinger viết: "Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác." Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những "chiến thuật né tránh" mà "người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc" ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

SpiegelKhi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

SpiegelMặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

SpiegelVề điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

SpiegelNếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

SpiegelTrong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao "trí tuệ", "sự can đảm", "nền tảng văn hóa" của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào "thái độ vô liêm sỉ", "xấc xược", "tính vị kỷ chà đạp" và "chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng" trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra "sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực". Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

SpiegelHay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

SpiegelNhư trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

SpiegelTrong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là "đồ chó đẻ" (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết "thế nào là tàn bạo".

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp. 

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ "lòng oán hận độc địa".

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

SpiegelKissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn "thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng" của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

SpiegelKissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu "theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề", rằng ông "chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện".

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi. 

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một. 

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không? 

SpiegelMột số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

SpiegelNhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một "thỏa thuận danh dự". Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: "Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ." Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: "Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự."

SpiegelKissinger viết như sau: "Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh."

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ. 

SpiegelCó bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: "Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt."

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

SpiegelCá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

SpiegelXin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

(Nguồn: "Die Amerikaner haben uns verraten", tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)

Die Amerikaner haben uns verraten, Nguyen van Thieu

Südvietnams früherer Präsident Thieu über Kissingers Memoiren und den Krieg in Vietnam

Von Engel, Johannes K. und Lohfeldt, Heinz P.
SPIEGEL: Mr. Thieu, von 1968 bis 1973 versuchten die Vereinigten Staaten, einen Frieden für Vietnam aUszuhandeln. In seinen Memoiren beschreibt Henry Kissinger, Amerikas Chefunterhändler, über viele Seiten hinweg, wie Sie als Präsident Südvietnams seine Anstrengungen unterliefen, Frieden in einem Krieg herbeizuführen, der viele Jahre dauerte, Millionen Opfer forderte und, wie Kissinger schrieb, dazu bestimmt schien, "Amerikas Herz zu brechen". Warum haben Sie Obstruktion betrieben?
THIEU: Das ist absoluter Unsinn. Hätte ich Obstruktion betrieben, hätte es 1973 keine Friedensregelung gegeben -- obwohl, wie jedermann weiß, es kein guter Frieden war; die Folgen des Friedens in Vietnam sind beredtes Zeugnis dafür. Kissinger vertrat die Politik und die Interessen der amerikanischen Regierung. Als Präsident von Vietnam war es meine Aufgabe, die lebenswichtigen nationalen Interessen meines Landes zu verteidigen.
Ich habe Präsident Nixon und Dr. Kissinger oftmals dargelegt, daß es den Vereinigten Staaten als Großmacht vielleicht nicht allzuviel bedeuten würde, einige unwichtige Positionen in einem kleinen Land wie Vietnam aufzugeben. Für uns aber war es eine Frage von Leben oder Tod für die gesamte Nation.
SPIEGEL: Kissinger bestreitet nicht, daß Sie schließlich der Friedensregelung zustimmten. Aber er sagt auch, daß es vor allem deshalb so lange dauerte, weil Sie soviel Obstruktion betrieben, daß Sie den amerikanischen Vorschlägen nur deshalb zustimmten, weil Sie sicher waren, Hanoi würde ohnehin ablehnen.
THIEU: Das stimmt nicht. Um einen Krieg, der nahezu 30 Jahre andauerte, zu beenden, benötigt man mehr als nur zwei, drei Tage oder zwei, drei Monate. Mir ist klar, daß dieser Krieg für die Vereinigten Staaten, die uns zu Hilfe gekommen waren, der längste Krieg ihrer Geschichte war. Deshalb hatten sie vielleicht so große Eile. Wir aber brauchten einen dauerhaften Frieden.
SPIEGEL: Kissinger unterstellt, daß Sie eine Friedensregelung nicht wirklich wollten, sondern eher hofften, die
* Mit SPIEGEL-Redakteuren Johannes K. Engel und Heinz P. Lohfeldt. An der wand ein Bild der Thieu-Ehefrau Mai Anh.
Nordvietnamesen würden genauso stur -sein wie Sie. Nur deshalb, so schreibt er, hätten Sie vielen amerikanischen Vorschlägen zugestimmt -- stets entschlossen, sich nicht an sie zu halten, da Sie ohnehin nicht glaubten, daß ein Abkommen zustandekommen würde. Haben Sie während der Verhandlungen geblufft in der Hoffnung, daß Sie Ihre Karten niemals würden auf den Tisch legen müssen?
THIEU: Nein. Man kann doch einfach nicht sagen, daß ein Volk, das über mehr als 30 Jahre so viele Leiden zu erdulden hatte, einen Krieg noch in die Länge zu ziehen suchte. Kissinger wollte die Dinge schnell voranbringen, so daß die USA ihre Truppen abziehen und die Freilassung der amerikanischen Kriegsgefangenen erreichen konnten. Und vielleicht war es ja auch das Ziel der amerikanischen Regierung, sich eilends davonzumachen ("scuttle and run"). --
Sie konnten sich ja gut davonmachen. Wir mußten in Südvietnam bleiben.
Es war unser legitimes Recht, eine umfassende Friedensregelung zu verlangen. Nicht nur zwei oder drei Jahre Frieden und dann noch einmal 30 Jahre Krieg.
SPIEGEL: Warum sind Sie dann den Amerikanern zuvorgekommen und haben bei dem Treffen auf der Pazifik-Insel Midway im Juni 1969 den Abzug amerikanischer Truppen vorgeschlagen, wie Kissinger berichtet?
THIEU: Schon vor dem Treffen auf Midway war es kein Geheimnis, daß die US-Regierung beabsichtigte, Truppen abzuziehen. Darf ich Sie daran erinnern, daß die Nachricht vom geplanten Abzug einiger US-Truppen sich noch vor dem Midway-Treffen in aller Welt verbreitet hatte? Warum? Ich vermute, die US-Regierung wollte einen Versuchsballon steigen lassen, der Presse diese Nachricht zuspielen und uns vor vollendete Tatsachen stellen.
SPIEGEL: Sie waren also bereits im Bilde?
THIEU: Ja. Das Midway-Treffen diente zwei Zwecken. Es gab den beiden neuen Präsidenten Gelegenheit, einander kennenzulernen und das Thema Vietnam zu erörtern. Der zweite sehr klar umrissene Punkt war eine Erörterung über den ersten Abzug amerikanischer Truppen. Ich hatte keine falschen Vorstellungen und die Situation gut im Griff. Es bestand kein Grund zur Unruhe, und ich war sehr zuversichtlich.
SPIEGEL: Als Sie den Truppenabzug vorschlugen, glaubten Sie da wirklich,. daß Sie den Krieg allein führen und schließlich gewinnen konnten -- einen Krieg, den über 540 000 amerikanische Soldaten und die gigantische US-Militärmaschinerie nicht hatten gewinnen können? Das kann man doch kaum glauben.
THIEU: Nein, das habe ich eben -nicht vorgeschlagen. Ich habe lediglich zugestimmt. Ich stimmte dem ersten amerikanischen Truppenabzug zu, weil Präsident Nixon mir sagte, er habe ein innenpolitisches Problem, und der Abzug würde nur symbolischen Charakter haben. Man benötigte die Unterstützung der öffentlichen Meinung und des Kongresses. Ich sagte ihm aber auch: Sie müssen sicherstellen, daß Hanoi den ersten Truppenabzug. nicht als Schwäche der Vereinigten Staaten ansieht.
SPIEGEL: Und Sie glaubten nicht, daß das der Anfang eines totalen Abzugs sei?
THIEU: Nein. Ich konnte mir vorstellen, daß dies der erste Schritt einer Truppenreduzierung sei. Ich konnte mir niemals vorstellen, daß Amerika ganz herausgehen und Südvietnam aufgeben würde. Ich legte Präsident Nixon dar, daß die Reduzierung schrittweise vollzogen werden sollte, so wie es die Schlagkraft und der weitere Ausbau der südvietnamesischen Armee erlaubte -- entsprechend der Militär- und Wirtschaftshilfe, die es Vietnam ermöglichen würde, auf eigenen Füßen zu stehen.
Ich erklärte ihm, was noch wichtiger war, er möge Hanoi zu einer entsprechenden Gegenleistung auffordern. Die Amerikaner stimmten mir in allem zu; im Hinblick auf einen schrittweisen und beidseitigen ...
SPIEGEL: ... und symbolischen Abzug?
THIEU: Mir war klar, daß der Vietnamkrieg für die USA auch ein innenpolitisches Problem war. Und Präsident Nixon erklärte mir, daß er dafür eine symbolische Geste brauchte.
Als ich eine Woche zuvor in Seoul und Taiwan war, erklärte ich Präsident Park Chung Hee und Präsident Tschiang Kai-schek, ich hoffte, daß es bei meiner Unterredung mit Präsident Nixon auf Midway nur uni eine symbolische Truppenreduzierung gehen würde. Aber ich wies darauf hin, daß wir es nicht verhindern könnten, wenn die USA ganz abziehen wollten. Es sei dann aber viel vernünftiger, sie um einen schrittweisen Abzug und um gleichzeitige Hilfe beim Aufbau einer starken und modernen südvietnamesischen Armee zu bitten, die die Amerikaner ersetzen würde. Ich bin niemals davon ausgegangen, daß amerikanische Truppen auf ewig in Vietnam bleiben würden.
SPIEGEL: Amerikanische Truppen blieben auch in Südkorea und in Westdeutschland.
THIEU: Aber wir sind ein sehr stolzes Volk. Wir sagten ihnen, daß wir Hilfe und Waffen benötigten, daß es uns aber nicht an Blut und Menschen mangelte.
SPIEGEL: Wie würden Sie Ihre damalige Situation analysieren? Nur wenige Monate zuvor hatte der amerikanische Verteidigungsminister Melvin Laird einen neuen Begriff geprägt: "Vietnamisierung". Bis dahin hatten die Amerikaner von einer "Ent-Amerikanisierung" des Krieges gesprochen. Machte diese neue Bezeichnung nicht schon das amerikanische Vorhaben deutlich, ziemlich schnell abzuziehen?
THIEU: Als Mr. Nixon im Juli 1969 nach Saigon kam, wiederholte er, daß er sich die Unterstützung durch die amerikanische Öffentlichkeit erhalten müsse. Ich verstand ihn. Aber er erklärte mir niemals, daß es sich beim Abzug um einen systematischen Zeitplan auf amerikanische Initiative hin handelte. Er sprach zu mir nur von den innenpolitischen Schwierigkeiten, die er in den Vereinigten Staaten habe, und bat mich, ihm zu helfen. Er sagte mir: "Helfen Sie uns, Ihnen zu helfen." Ich -- erwiderte: "Ich helfe Ihnen, uns zu helfen." Auf dieser Zusammenkunft sprachen wir wieder von schrittweisem Abzug.
SPIEGEL: Aber nicht über einen bestimmten Zeitplan?
THIEU: Nein. Und Mr. Nixon versprach erneut, daß ein Abzug mit entsprechenden Maßnahmen Nordvietnams beantwortet werden müsse und sich in Übereinstimmung mit der Verteidigungskraft Südvietnams und in Übereinstimmung mit der fortgesetzten Militär- und Wirtschaftshilfe für Südvietnam zu vollziehen habe.
SPIEGEL: War Ihnen damals klar, daß Amerika auch zu einem einseitigen Abzug entschlossen war, falls sich das als nötig erweisen sollte?
THIEU: Ja, ich hatte den Verdacht. Aber zu jener Zeit war ich noch sehr zuversichtlich und vertraute unserem großen Verbündeten.
SPIEGEL: Vielleicht konnten Sie das auch. Aus Kissingers Buch geht ziemlich deutlich hervor, daß die Nixon-Regierung nicht einfach "ein Unternehmen einstellen konnte, in das zwei "Regierungen und fünf verbündete Staaten verwickelt waren und das 31 000 tote Amerikaner gefordert hatte -- so als ob wir einfach auf einen anderen Fernsehkanal umschalteten".
Die Amerikaner wollten offensichtlich auf dem Verhandlungswege aus Vietnam heraus. Einseitig abziehen wollten sie nur, falls nötig. Haben Sie irgendwelche Forderungen im Hinblick auf die Verhandlungen zwischen Washington und Hanoi vorgebracht?
THIEU: Wir hatten den Krieg satt, und wir waren entschlossen, ihn durch Verhandlungen zu beenden. Wir forderten, die Invasoren, die in unser Land eingefallen waren, sollten sich zurückziehen, das war alles.
SPIEGEL: Sie haben geklagt, der Zusammenbruch Südvietnams im Jahre 1975 sei hauptsächlich auf die Tatsache zurückzuführen, daß es den nordvietnamesischen Truppen gestattet war, auch nach der Unterzeichnung der Pariser Friedensvereinbarung im Süden zu verbleiben. Sie behaupteten, daß Sie ihrer Anwesenheit nur so lange zugestimmt hätten, wie die Verhandlungen über den Vertragsabschluß andauerten, und daß sie sich danach zurückziehen sollten.
Kissinger behauptet jedoch in seinem Buch, es sei Ihnen sehr wohl klar gewesen, daß die Nordvietnamesen im Süden bleiben würden und daß Sie bis zum Oktober 1972 auch keinerlei Einwände gegen die entsprechenden amerikanischen Vorschläge erhoben hätten.
THIEU: Das ist eine höchst unziemliche Lüge ("most unmannerly lie") von Kissinger, daß ich dem Verbleiben nordvietnamesischer Truppen im Süden zugestimmt hätte. Wenn ich dem von Anfang an zugestimmt hätte, wie Kissinger behauptet, dann hätte ich mich nicht so sehr widersetzt, als er mir den Vertragsentwurf vorlegte, in dem nichts über einen Abzug der nordvietnamesischen Truppen stand.
Das war der wichtigste Punkt, um den ich kämpfte, vom Anbeginn der· Friedensgespräche bis zu ihrem Ende. Ich forderte Kissinger bis zuletzt auf, von Hanoi den Abzug zu verlangen, und erklärte ihm, daß es kein Abkommen geben würde, wenn sie das nicht täten.
Nach vielen Tagen erbitterter Diskussion gestand mir Kissinger schließlich: "Mr. President, es ist nicht möglich. Wäre es möglich, hätte ich es getan. Die Frage wurde schon vor drei Jahren vorgebracht, aber Rußland stimmt nicht zu." Da war mir klar, daß die amerikanische Regierung russischen Forderungen nachgegeben hatte, und das war meine größte Enttäuschung.
SPIEGEL: Vielleicht konnten die Russen nicht anders reagieren, da doch die Nordvietnamesen sich weigerten, Südvjetaam als Ausland zu betrachten, und eine Zeitlang sogar abstritten, daß sie überhaupt reguläre Truppen in Ihrem Lande hatten.
THIEU: Wir haben mehr als 20 Jahre lang Krieg geführt und dabei gelernt, niemals dem zu trauen, was Rußland und Nordvietnam sagten. Nordvietnam hatte Truppen in Laos und Kambodscha und Südvietnam, und ich glaubte, daß sogar ein Blinder das hätte sehen können. Um den Krieg zu beenden, mußten wir auf die Tatsachen schauen und nicht auf das hören, was der Feind sagte.
SPIEGEL: Haben Sie so auch mit Kissinger argumentiert?
THIEU: Gewiß, und auch gegenüber General Haig. Ich fragte ihn: "General Haig, Sie sind General, ich bin General. Ist Ihnen aus der Geschichte irgendein Friedensvertrag bekannt, in dem es den Invasoren gestattet wurde, in den Gebieten zu bleiben, in die sie eingefallen waren?" Ich fragte ihn: "Würden Sie russischen Truppen erlauben, in den Vereinigten Starten zu bleiben, und sagen, Sie hätten eine Friedensregelung mit Rußland erreicht?"
SPIEGEL: Was antwortete er? 1912 in Saigon.
THIEU: Er konnte nicht antworten. Wie denn -- es war so unlogisch. Was konnte er antworten?
SPIEGEL: Kissinger antwortet in seinem Buch. Er schreibt, man konnte die Nordvietnamesen nicht gut zwingen, ihre Truppen zurückzuziehen, da sie kaum bereit gewesen wären, am Verhandlungstisch aufzugeben, was sie auf dem Schlachtfeld nicht verloren hatten. Er sagte aber auch, daß es im Pariser Abkommen eine Klausel gab, derzufolge keine weitere Infiltration stattfinden werde. Er kommt zu der Schlußfolgerung; "Die nordvietnamesischen Truppen im Süden würden durch natürliche Auszehrung nach und nach verschwinden."
THIEU: Die US-Regierung und Dr. Kissinger im besonderen haben meiner Ansicht nach überhaupt nichts gelernt, wenn es darauf ankommt, mit Kommunisten zu verhandeln, nach den traurigen Erfahrungen von 1954 zwischen Frankreich und den Kommunisten und im Korea-Krieg. Sie haben aus den Verhandlungen über Laos und Kambodscha nichts gelernt und auch nicht begriffen, wie man mit Kommunisten umgeht und wie man ihre Strategie und Taktiken zu verstehen hat.
Damit sind wir wieder bei dem Problem, wie Dr. Kissinger, der eine große Nation vertrat und sich selbst als den besten Unterhändler lobte, glauben konnte, daß die nordvietnamesischen Truppen Südvietnam nicht infiltrieren würden. Wie konnte er das glauben?
Konnte er jeden Zoll der Grenzen von Kambodscha und Laos und Südvietnam überwachen? Selbst wenn wir eine Million internationaler Kontrolleure gehabt hätten, wäre es uns niemals möglich gewesen, zu behaupten, wir hätten nun Beweise, daß es keine Infiltration gebe. Wie konnte er auf das vertrauen, was die Nordvietnamesen sagten. Er mag den Kommunisten vertrauen, wir konnten es nicht. Deshalb bestand ich hartnäckig auf der Forderung nach Abzug der Nordvietnamesen. Wenn sie wirklich Frieden wollten, warum wollten sie dann bleiben?
SPIEGEL: Was antwortete Kissinger darauf?
THIEU: Was konnte er antworten? Was er und die amerikanische Regierung genau wollten, war, so schnell wie möglich abzuziehen, die Freilassung der amerikanischen Kriegsgefangenen sicherzustellen. Sie erklärten uns, daß sie eine ehrenhafte Lösung wünschten, aber in Wahrheit wollten sie sich die ganze Sache vom Hals schaffen und sich eilends davonmachen, wollten sie nicht von den Vietnamesen und der ganzen Welt beschuldigt werden, uns im Stich gelassen zu haben. Das war ihr Problem.
SPIEGEL: Kissinger schreibt in seinem Buch, daß gleich nach der Frühjahrs-Offensive der Nordvietnamesen im Jahre 1972 die Rollen vertauscht schienen. Nun wollten die Nordvietnamesen plötzlich die Verhandlungen wieder aufnehmen, während Südvietnam bis zum Sieg weitermachen wollte.
THIEU: Absoluter Unsinn! Was versteht Dr. Kissinger unter Sieg? Nordvietnam hat den Krieg nach Südvietnam getragen. Wir verlangten, daß es sich zurückzog. Ist das Sieg? Ich liebe die Nordvietnamesen niemals aufgefordert, sich in Südvietnam als Kriegsgefangene zu betrachten. Ich habe Nordvietnam niemals aufgefordert, Reparationen für Kriegsschäden zu zahlen. Ich habe von Nordvietnam niemals verlangt, Gebiete abzutreten. Ich habe niemals Sitze in der Regierung in Hanoi gefordert. Was versteht Kissinger also unter Sieg und totalem Sieg?
SPIEGEL: Was einen Abzug der Nordvietnamesen betrifft, so ist der 31. Mai 1971 ein bedeutsames Datum. Damals ließen die Amerikaner, laut Kissinger, in ihren geheimen Verhandlungsvorschlägen die Forderung nach beidseitigem Abzug fallen. Mindestens dreimal schreibt Dr. Kissinger in seinem Buch, daß Sie darüber nicht nur im voraus informiert worden seien, sondern daß Sie audi zugestimmt hätten.
THIEU: Ich habe niemals einem einseitigen Abzug zugestimmt. Seit dem Treffen von Midway habe ich stets schrittweisen und beidseitigen Abzug gefordert. Die USA änderten ihre Einstellung und versuchten, uns das aufzuzwingen, wobei sie die üblichen Taktiken anwendeten -- indem sie über meinem Kopf das Damoklesschwert schwangen und zum Beispiel die öffentliche Meinung in den USA erwähnten und sagten: "Ihr Image in den USA ist jetzt sehr schlecht!" Oder: "Der Kongreß will die Hilfe kürzen." Und so weiter. Sie benutzten dieselben Taktiken, spielten der Presse Material zu und stellten mich vor vollendete Tatsachen.
Sollte ich mich weigern, würde sich die öffentliche Meinung gegen mich kehren: "Er fordert zuviel, er wird die USA niemals abziehen lassen, er wird die amerikanischen Kriegsgefangenen niemals zurückkehren lassen." So mußte ich immer zustimmen. Nicht gutwillig, sondern unwillig. Wie konnte ich mich widersetzen, wenn man mir jedesmal sagte: "Wenn Sie sich sträuben, wird Ihnen die Hilfe gekürzt."
SPIEGEL: Kissinger schreibt, daß Sie bei jeder wie auch immer gearteten Entscheidung der Amerikaner vorab konsultiert wurden.
THIEU: Ja, sie haben mich konsultiert, aber bestimmt nicht, um ein Nein zu hören, wenn die betreffenden Entscheidungen den amerikanischen Interessen dienten. Häufiger aber haben sie praktisch alles, was sie wollten, durch Druck erreicht.
SPIEGEL: Kissinger übt nun bittere Kritik im Hinblick auf die Laos-Offensive des Jahres 1971. Sie hätten, so Kissinger, zugestimmt, daß eine Offensive in der Trockenzeit unbedingt geboten sei. Wessen Idee war das denn ursprünglich?
THIEU: Die der Amerikaner. Wir hatten das schon lange einmal machen wollen, aber wir konnten es nicht allein * Während der Laos-Operation 1971.
tun. Als nun die Amerikaner diesen Vorschlag machten, stimmten wir sehr gern zu, um den Krieg schneller zu beenden. Es war eine gemeinsame vietnamesisch-amerikanische Operation und ein sehr klar umrissenes Unternehmen: Die südvietnamesischen Truppen sollten in Laos die Operation durchführen, und die US-Truppen sollten den Nachschub aus Vietnam und von der Grenze her heranschaffen.
SPIEGEL: Warum? Weil der US-Kongreß durch Gesetz amerikanischen Truppen verboten hatte, laatisches Gebiet zu betreten.
THIEU: Ja, ich glaube. Aber auch weil wir nicht genug Mittel. hatten, um den Nachschub unserer Truppen heranzubringen und, das war am wichtigsten, um unsere Verwundeten auszufliegen. Das war nur per Hubschrauber möglich, und nur die Amerikaner hatten genug Hubschrauber. Ohne sie hätten wir niemals zugestimmt, das Unternehmen in Laos durchzuführen.
SPIEGEL: Kissinger schreibt, Ihre Truppen hätten Schwierigkeiten gehabt, Luftunterstützung anzufordern, weil es praktisch keine ausgebildeten Bodenfunker gab, die englisch sprachen.
THIEU: Mit der Luftunterstützung gab es überhaupt keine Schwierigkeiten. Wir machten uns keine Sorgen, wenn manchmal die Luftunterstützung fehlte; wir konnten mit unserer Artillerie kämpfen. Was ging nun schief: In den ersten drei Tagen der Operation hatten die Amerikaner sehr viele Hubschrauberpiloten verloren. Sie zögerten daher, weiterhin pünktlich und im erforderlichen Umfang auszufliegen. Das wurde zu einem großen Problem für die südvietnamesischen Truppen.
SPIEGEL: Die Moral brach zusammen?
THIEU: Wir konnten unsere Toten nicht ausfliegen, und wir konnten unsere Verwundeten nicht ausfliegen. Es beeinträchtigte nicht nur unsere Moral, sondern auch den Fortschritt der Operation.
SPIEGEL: Kissinger nennt einen anderen Grund für den Fehlschlag. Sie hätten, sagt er, Ihren Kommandeuren befohlen, beim Vorstoß in westlicher Richtung vorsichtig zu sein und das Unternehmen abzubrechen, sobald Ihre Verluste etwa die Zahl von 3000 erreicht hätten. Wenn sie das gewußt hätten, schreibt Kissinger, hätten die Amerikaner diesem Unternehmen niemals zugestimmt.
THIEU: Für einen Militär ist es imlogisch, im voraus eine Verlustzahl festzusetzen. Dr. Kissinger ist sehr phantasievoll ("very imaginative"), wenn er das sagt. Wir konnten nur so weit nach Westen vorstoßen, wie die Evakuierungs-Hubschrauber fliegen konnten. Kissinger behauptet, daß wir unsere Truppen zurückgezogen hätten, ohne die Amerikaner zu informieren. Wie hätten wir mehr als 10 000 Soldaten zurückziehen können, ohne daß sie es bemerkten?
SPIEGEL: Sie haben sie also informiert?
THIEU: Oh, gewiß. Und lassen Sie mich eine Anekdote erzählen. Damals erschien ein Bild in "Time" oder "Newsweck", auf dem ein südvietnamesischer Soldat sich an einen Rettungshubschrauber hängt. Darunter stand "Hasenfuß" ("rabbit"). Ich lächelte nur. Ich fand das schlimm. Man kann doch nicht einen einzelnen Soldaten daran hindern, so etwas zu tun. Und doch beschuldigte die Presse die südvietnamesischen Soldaten, Hasenfüße zu sein, während sie zugleich die Wahrheit über den mangelnden Kampfgeist der amerikanischen Hubschrauberpiloten in dieser Operation völlig unterdrückte.
SPIEGEL: Ein sehr umstrittener Punkt zwischen Amerikanern und Südvietnamesen war die Frage des Waffenstillstandes. Nach dem Kissinger-Buch bestand bereits im Sommer 1970 Einigkeit in der US-Regierung, einen Waffenstillstand an den erreichten Frontlinien vorzuschlagen. Kissinger behauptet, daß Sie nicht nur zustimmten, sondern diesen Vorschlag sogar befürworteten.
THIEU: Es stimmt, ich war auch der Meinung, daß ein Waffenstillstand der erste Schritt zur Erfüllung eines Friedensabkommens sein müsse. Aber was einen sofortigen -- und ich wiederhole: sofortigen -- Waffenstillstand betraf, habe ich Kissinger niemals zugestimmt. Ich sagte, daß wir das sehr sorgfältig überlegen müßten. Ein Waffenstillstand konnte nicht durchgeführt werden, bevor man nicht sorgfältige Überlegungen anstellte, wer die Feuereinstellung überwachen würde, was bei· einer Verletzung der Feuereinstellung zu geschehen hätte, wo die Truppen sich befinden sollten, und so weiter.
SPIEGEL: Kissinger schreibt: "Wir dachten damals noch, daß wir mit Thieu im Tandem arbeiteten." Den Amerikanern sei nicht klar gewesen, daß sie von Ihnen mit jenen "ausweichenden Taktiken" bedacht wurden, "die Vietnamesen den Ausländern angedeihen lassen
THIEU: Uns kam niemals in den Sinn, daß wir uns als kleines Land -- das fast alles einem großen Verbündeten verdankte und das weiterhin uni langfristige Hilfe bat -- irgendwelche Tricks leisten konnten.
SPIEGEL: Als die Amerikaner abgezogen waren und es den Nordvietnamesen gestattet war, ihre Truppen in Südvietnam zu behalten, da müssen Sie doch wohl gedacht haben, daß der Krieg nun verloren sei?
THIEU: Nicht unbedingt, wenn wir nur weiterhin ausreichende Hilfe von den Vereinigten Staaten erhalten hätten, wie die US-Regierung sie uns versprochen hatte, als wir das Abkommen unterzeichneten. Sogar noch, als wir den Vertrag unterzeichneten, hielt ich ihn für einen "drôle de paix" -- einen windigen ("phoney") Frieden.
Aber wir glaubten noch immer, daß wir jeder nordvietnamesischen Aggression widerstehen konnten, wenn sie die Friedensvereinbarungen verletzten. Wir hatten zwei Gründe: Wir hatten ein festes schriftliches Versprechen von Präsident Nixon, daß die USA energisch reagieren würden, wenn Nordvietnam die Friedensvereinbarungen verletzen sollte.
SPIEGEL: Obwohl er niemals sagte, wie.
THIEU: Zweitens sollten wir so lange wie nötig genug Militär- und Wirtschaftshilfe erhalten, um der nordvietnamesischen Aggression zu widerstehen. Wäre dieses Versprechen von der US-Regierung ehrlich eingehalten worden, könnte der Krieg zwar noch immer andauern, aber es wäre nicht zu einer Übernahme Südvietnams durch die Nordvietnamesen gekommen.
SPIEGEL: In diesem Punkt stimmen Sie und Kissinger mehr oder weniger überein. Er schreibt, daß die Gesamtstrategie wohl Erfolg gehabt hätte, wenn die Amerikaner in der Lage gewesen wären, gegen jede Verletzung der Friedensvereinbarung durch die Nordvietnamesen vorzugehen und Südvietnam weiterhin mit ausreichender Hilfe zu versorgen. Was ging schief? Für Kissinger liegt die Schuld bei Watergate, weil danach der amerikanische Präsident keine Autorität mehr besaß. Glauben Sie, daß Watergate wirklich verantwortlich dafür ist, daß alles zusammenbrach?
THIEU: Es tut mir leid, aber ich bin kein Amerikaner. Ich möchte nicht vor der Tür der Amerikaner fegen. Aber wenn die Amerikaner ihr Versprechen gehalten hätten, wäre das die beste Abschreckung gegen eine erneute Aggression durch die Nordvietnamesen gewesen, und der Krieg wäre möglicherweise ausgeklungen.
SPIEGEL: Wenn die USA ihr Versprechen gehalten hätten, dann hätte Ihres Erachtens das Abkommen durchaus zum Erfolg führen können? THIEU: Ich glaube ja.
SPIEGEL: Dann war also das Pariser Abkommen insgesamt gar nicht so schlecht?
THIEU: Es war bestimmt kein gutes Abkommen für uns. Es war windig. Aber es war ein letzter Ausweg. Verstehen Sie bitte, wir haben es nur unterschrieben, weil wir nicht nur -- wie ich schon erwähnte -- die Zusage der amerikanischen Regierung hatten, sondern weil der Vertrag außerdem von zwölf Staaten und den Vereinten Nationen garantiert wurde.
SPIEGEL: In seinem Buch hat Dr. Kissinger ätzende Kommentare für praktisch so manchen führenden Politiker. Aber die entwürdigendsten hat er augenscheinlich für Sie reserviert. Obwohl er Ihre "Intelligenz", Ihren "Mut", Ihren "kulturellen Background" lobt, verweilt er doch bei Ihrem "schändlichen Benehmen", Ihrer "Frechheit", Ihrer "rücksichtslosen Egozentrik" und Ihrer "ungeheuerlichen, fast manisch besessenen Taktik im Umgang mit den Amerikanern". Kissinger empfand deshalb schließlich den "ohnmächtigen Zorn, mit dem die Vietnamesen stets ihre physisch stärkeren Gegner gequält haben". Was sagen Sie zu all diesen Kennzeichnungen in Kissingers Memoiren?
THIEU: Ich möchte ihm nicht antworten. Ich möchte über ihn keinen Kommentar abgeben. Er kann über mich urteilen, wie er will, gut oder schlecht. Ich möchte lieber über das reden, was wirklich zwischen den Vereinigten Staaten und Südvietnam geschah.
SPIEGEL: Haben Sie ihm vielleicht Grund gegeben, in dieser abfälligen Weise über Sie zu schreiben?
THIEU: Vielleicht war er erstaunt darüber, daß er es mit Leuten zu tun hatte, die so intelligent und so tüchtig waren. Vielleicht rührt das auch von dem Überlegenheitskomplex eines sehr hochfahrenden ("very vainglorious") Mannes her. Vielleicht kann er nicht glauben, daß ein vietnamesischer Gesprächspartner einem Manne gewachsen ist, der sich für so bedeutend hält.
Lassen Sie mich noch eine Anekdote erzählen: Auf Midway amüsierte ich mich, weil ich mir niemals hatte vorstellen können, daß solche Leute so schäbig wären. Als wir uns im Hause des Navy-Captains auf Midway trafen, waren dort Mr. Nixon, Mr. Kissinger, mein Assistent und ich. Da standen drei niedrige Stühle und ein hoher Stuhl. Mr. Nixon saß auf dem hohen Stuhl.
SPIEGEL: Wie in Chaplins Film "Der große Diktator"? Da sitzt Hitler auch auf einem hohen Stuhl, um auf Mussolini in einem niedrigen Stuhl herabblicken zu können.
THIEU: Aber ich nahm mir einen anderen, ähnlich hohen Stuhl aus der Eßecke, so daß ich auf der selben Höhe wie Nixon saß. Nach dem Midway-Treffen hörte ich dann auch von meinen amerikanischen Freunden, Kissinger habe niemals erwartet, daß Präsident Thieu der Mann sei, der er nun einmal ist.
SPIEGEL: Kissinger beklagt in seinem Buch, daß er von Ihnen persönlich schlecht behandelt worden sei; daß Sie Verabredungen abgesagt und statt dessen Wasserskilaufen gegangen seien. Nixon ging sogar noch weiter. Laut Kissinger nannte er Sie einen "son of a bitch", dem er zeigen würde, "was Brutalität wirklich bedeutet".
THIEU: Es tut mir leid, aber ich kann auf diese Äußerung Nixons nicht antworten. Ich kann es mir nicht erlauben, auf solche unziemlichen oder vulgären Ausdrücke zu antworten, denn ich stamme nun einmal aus gutem Hause.
Wenn ich Dr. Kissinger und Botschafter Bunker nicht empfing, dann einfach, weil wir noch nicht so weit waren, um die Gespräche mit ihnen fortzusetzen. Nachdem sie vier Jahre benötigt hatten, wieso sollte ich gezwungen sein, meine Antwort innerhalb einer Stunde zu geben. Wenn die Amerikaner sich Zeit nehmen konnten, warum nicht ich? Es hätte ihnen gefallen, wenn wir Jasager gewesen wären. Aber ich bin kein Jasager, und die Südvietnamesen sind kein Jasage-VoIk; unser Kongreß ist kein Jasage-Kongreß. Ich muß sie konsultieren.
SPIEGEL: Ihre Haltung ihm gegenüber, schreibt Dr. Kissinger, sei schließlich durch Ihren "giftigen Haß" bestimmt gewesen.
THIEU; Nein. Ich verteidigte nur die Interessen meines Landes. Gewiß gab es einige sehr scharfe Diskussionen, aber meine Haltung wurde durch meinen Patriotismus bestimmt.
SPIEGEL: Kissinger schreibt, daß er durchaus "einiges Verständnis für die fast unmögliche Lage" gehabt habe, in der Sie sich befanden. Haben Sie irgendwelche Anzeichen für ein solches Verständnis wahrgenommen?
THIEU: Nein, das habe ich nicht wahrgenommen. Das einzige, was ich wahrgenommen habe, war- Druck seitens der US-Regierung.
SPIEGEL: Kissinger schreibt, daß Sie sich niemals an einer Diskussion über Konzeptionen beteiligt hätten. Er sagt, Sie hätten "auf vietnamesische Art gekämpft: indirekt, auf Umwegen und mit Methoden, die eher ermüdend als klärend wirken sollten. Er mäkelte an allem herum, kam aber niemals auf den Kern der Sache zu sprechen".
THIEU: Versetzen Sie sich in meine Lage. Von Anfang an ließ ich zu, daß die US-Regierung vertrauliche Gespräche mit Hanoi führte. Kissinger sagt, ich sei stets informiert worden. Ja, ich wurde informiert -- über das, worüber er mich informieren wollte. Aber ich vertraute darauf, daß mein Verbündeter mich niemals hintergehen, über· meinen Kopf hinweg verhandeln und mein Land heimlich verkaufen würde.
Aber können Sie sich vorstellen, daß er mir nur vier Tage vor seiner Abreise nach Nordvietnam im Oktober 1972 den Entwurf des Vertrages, der dann in Paris paraphiert werden sollte, auf Englisch vorlegte? Wir mußten den englischen Entwurf erörtern, Punkt für Punkt.
Und dieser Entwurf war nicht von den Südvietnamesen und den USA verfertigt worden, sondern von den Nordvietnamesen und den USA. Können Sie sich das vorstellen? Der logische Weg wäre doch gewesen, daß sich zunächst die Südvietnamesen und die Amerikaner über Bedingungen einer Friedensvereinbarung verständigt hätten und daß Kissinger dann zu uns zurückgekommen wäre, wenn die Nordvietnamesen irgendwelche Gegenvorschläge gemacht hätten. Das tat er nicht.
Statt dessen entwarf er die Vereinbarungen gemeinsam mit den Nordvietnamesen und präsentiert sie mir auf Englisch. Können Sie sich vorstellen, -wie -mir zumute war, daß wir den Text des Friedensabkommens, der das Schicksal unseres Volkes bestimmen würde, nicht einmal in unserer eigenen Sprache sehen konnten?
SPIEGEL: Aber Sie bekamen schließlich eine vietnamesische Fassung?
THIEU: Wir insistierten und insistierten und insistierten, und dann, im letzten Augenblick, stimmte er zu, gewiß unwillig. Und dann entdeckten wir viele Fallgruben. Ich fragte Botschafter Bunker und Kissinger: "Wer hat denn den vietnamesischen Text geschrieben?" Sie antworteten: "Ein sehr tüchtiger Amerikaner vom International Linguistics College in den Vereinigten Staaten gemeinsam mit den Nordvietnamesen." Aber kein Amerikaner kann besser vietnamesisch verstehen und schreiben als ein Vietnamese. Und kein Amerikaner kann besser mit den vietnamesischen Kommunisten in der vietnamesischen Sprache fertig werden als wir selber. War das ehrlich und aufrichtig von einem Verbündeten?
SPIEGEL: Hohe Regierungsbeamte in den USA sollen einmal die Auffassung vertreten haben, daß Kissinger doch nur eine "Schamfrist" ("decent interval") zwischen amerikanischem Abzug und dem unvermeidlichen Zusammenbruch Südvietnams zu erreichen versucht habe. In seinem Buch weist Kissinger das zurück. Was ist Ihre Meinung?
THIEU: Was immer die Amerikaner sagen, ich bin überzeugt, das Endziel der US-Regierung war eine Koalitionsregierung in Südvietnam.
SPIEGEL: Kissinger führt eine ganze Anzahl Punkte auf, um zu beweisen, daß das nicht stimmt.
THIEU: Die amerikanische Regierung versuchte, uns das aufzuzwingen. Dann hätten sie darauf stolz sein können, sich die Sache mit einem "ehrenhaften Abkommen" vom Hals zu schaffen. Dann hätten sie in den USA sagen können: "Wir ziehen unsere Truppen zurück,. wir erreichen die Freilassung unserer Kriegsgefangenen." Und außerhalb der USA: "Wir haben Frieden in Südvietnam erreicht. Jetzt liegt es bei den Südvietnamesen. Wenn aus einer Koalitionsregierung eine von Kommunisten beherrschte Regierung wird, ist das deren Problem. Wir haben es ehrenhaft gelöst."
SPIEGEL: Kissinger schreibt: "Für uns ging es bei den Verhandlungen um ein Prinzip: daß Amerika seine Freunde nicht verrät."
THIEU: Sehen Sie sich doch die Lage heute in Südvietnam, in Kambodscha, in ganz Indochina an. Wenn wir mit amerikanischen Regierungsvertretern über den Friedensvertrag diskutierten, hatten wir oftmals den Eindruck, daß sie den Advokat des Teufels nicht nur spielten, sondern auch so handelten.
SPIEGEL: Haben Sie jemals so etwas wie Dankbarkeit empfunden für das, was die Amerikaner getan haben, um Ihrem Land zu helfen? Kissinger sagt in seinem Buch: "Anerkennung für geleistete Dienste ist kein vietnamesischer Charakterzug."
THIEU (lacht): Im Hinblick auf das, was Kissinger in seinem Buch schreibt, meine ich, daß nur ein Mann mit einer verdrehten Gesinnung ("twisted spint") sich so etwas vorstellen könnte -- nur ein Mann mit einem unangenehmen Charakter ("awkward temper"). Er unterstellt in seinem Buch, er habe befürchtet, daß die Vietnamesen an den zurückbleibenden Amerikanern Rache nehmen würden, nachdem Washington uns aufgegeben hatte. Wir würden so etwas niemals tun -- nicht jetzt und niemals.
SPIEGEL: Haben Sie persönlich so etwas wie Dankbarkeit empfunden?
THIEU: Ganz aufrichtig gesagt: Wenn die amerikanische Regierung uns nicht verraten und uns nicht einen Dolch in den Rücken gestoßen hätte, wäre das vietnamesische Volk für immer dankbar. Nachdem wir einmal mit Kissinger eine scharfe Diskussion über den Text der Friedensvereinbarung geführt hatten, sagten einige Mitglieder meiner Regierung, es wäre doch ein glückliches Geschick gewesen, wenn Kissinger das für Südvietnam getan hätte, was er für Nordvietnam getan hat. Ich antwortete ihnen: Wenn er einen wirklichen Frieden mit den Nordvietnamesen aushandeln könnte, dann könnte er in Südvietnam ein Denkmal bekommen, genauso wie Korea eine Statue von MacArthur errichtete. Unglücklicherweise war es -- nicht so.
Ich meine, die Amerikaner sollten angesichts der Folgen des Friedens am besten selbst urteilen, was Mr. Nixon und Mr. Kissinger Südvietnam angetan haben: die Konzentrationslager, die Hungersnot, die Foltern, die vielen tausend "boat people", die im Pazifischen Ozean starben, und ein Völkermord, der sehr viel grausamer, viel systematischer und geplanter ist als in Kambodscha. Kissinger kann auf den Frieden, den er erreicht hat, nicht stolz sein. Es ist der Frieden des Grabes.
SPIEGEL: Mr. Thieu, wir danken Ihnen für dieses Gespräch. Nguyen van Thieu
war von 1967 bis 1975 Präsident von Südvietnam. Der in der Nähe der alten Kaiserstadt Hué geborene Thieu, 56, Sohn eines Fischhändlers, nahm schon an dem von Amerikanern inspirierten Putsch gegen den Präsidenten Diem im November 1963 teil. Den Amerikanern fiel der Berufsoffizier Thieu ein Jahr später durch seine militärischen Fähigkeiten als kommandierender General eines Korps auf. 1967 wurde Thieu zum Präsidenten Südvietnams gewählt -- und damit zum Partner der USA in einem längst verlorenen Krieg. Als sich die Nordvietnamesen gut zwei Jahre nach dem Pariser Friedensabkommen von 1973 anschickten, ganz Vietnam zu überrennen, trat Thieu zurück und ging -- über Taiwan -- ins Exil nach England. Neun Tage später kapitulierte Saigon.
DER SPIEGEL 50/1979
Alle Rechte vorbehalten
Vervielfältigung nur mit Genehmigung der SPIEGEL-Verlag Rudolf Augstein GmbH & Co. KG.

Dieser Artikel ist ausschließlich für den privaten Gebrauch bestimmt. Sie dürfen diesen Artikel jedoch gerne verlinken.
Unter http://www.spiegelgruppe-nachdrucke.de können Sie einzelne Artikel für Nachdruck bzw. digitale Publikation lizenzieren.
http://magazin.spiegel.de/EpubDelivery/spiegel/pdf/39685817