Sản xuất đang quay trở lại Mỹ và Châu Âu?
Trong vài tuần qua, rất nhiều tờ báo đã đưa tin về tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc, từ phá giá tiền tệ, suy thoái kinh tế tới thị trường chứng khoán “lao dốc không phanh”. Hầu hết các nhà kinh tế, bao gồm cả những chuyên gia IMF, đều cho rằng vẫn còn quá sớm để nói về một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nhưng một phần nguyên nhân có vẻ đến sự quá trình thay đổi chiến lược sản xuất đến gần thị trường mục tiêu của các công ty đa quốc gia.
Sản xuất đang quay trở lại Mỹ và Châu Âu?
Bằng chứng được đưa ra từ một loạt những các cuộc khảo sát được thực hiện bởi nhiều tổ chức khác nhau.
Năm 2012, Diễn đàn đổi mới Chuỗi cung ứng của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã thực hiện một cuộc khảo sát trực tuyến nhằm tìm hiểu những nhà sản xuất của Mỹ đang làm gì để đưa sản xuất trở lại Hoa Kỳ và những yếu tố nào thúc đẩy quá trình ra quyết định của họ. Đã có 156 công ty sản xuất của Hoa Kỳ tham gia khảo sát.
Kết quả cho thấy có 33,6% công ty cho rằng họ đang “xem xét”, trong khi có 15,3% công ty thì đảm bảo “chắc chắn” sẽ đưa sản xuất trở lại nước Mỹ. Cuộc khảo sát năm 2014 trên 89 công ty có trụ sở ở Mỹ và 33 công ty có trụ sở tại nước ngoài cũng cho kết quả tương tự.
Hơn thế nữa, cuộc khảo sát gần đây của AlixPartners trên các công ty sản xuất và phân phối hoạt động ở Bắc Mỹ và Tây Âu đều cho kết quả: quá trình dịch chuyển sản xuất ngày càng gia tăng. 32% công ty trả lời rằng họ gần như đang lên kế hoạch để sản xuất gần thị trường sở tại nhằm đáp ứng nhu cầu trong vòng 1-3 năm tới.
Một dấu hiệu khác cho thấy xu hướng sản xuất đến gần thị trường sở tại đang ngày càng gia tăng là thông qua Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI). Chỉ số này cho thấy sự thay đổi trong quá trình sản xuất (nếu là 50 có nghĩa không đổi, trên 50 thì sản xuất tăng, còn dưới là giảm).
PMI tại Trung Quốc tháng 8/2015 đạt 49,7 và tháng 7/2015 là 50. Trong khi đó, con số tương tự tại Mỹ là 51,1 vào tháng 8 và 52,7 vào tháng 7, dù tốc độ có giảm nhưng hoạt động sản xuất vẫn tăng trưởng tại Mỹ. Còn PMI tại Châu Âu là 52,2 vào tháng 8 và 52,3 vào tháng 07.
Nhìn chung, những con số này khắc họa bức tranh sụt giảm sản xuất tại Trung Quốc liên quan đến việc giảm nhẹ nhu cầu thị trường trong nước, đồng thời xu hướng chuyển dịch sản xuất đến gần thị trường sở tại.
Lý do thực sự khiến sản xuất rời bỏ Trung Quốc
Tất nhiên, việc đưa sản xuất trở lại Mỹ không đồng nghĩa với thêm nhiều việc làm tại đây hay Trung Quốc mất đi vị thế “công xưởng” toàn cầu. Tuy nhiên, xu hướng này đang cho thấy thế giới đang trong xu thế chuyển đổi: các công ty đang chuyển dịch chiến lược sản xuất toàn cầu của mình, từ việc sản xuất tập trung tại nước có chi phí rẻ, sang hướng tới tối ưu hóa sản xuất phù hợp với chiến lược theo vùng.
Ví dụ như sản xuất tại Trung Quốc là cho thị trường nước này; tại Mỹ (hay Mexico và các nước Latin) là phục vụ nhu cầu Châu Mỹ; còn tại Đông Âu là dành cho thị trường châu Âu.
Các cuộc khảo sát cho thấy, xu hướng này đang bắt đầu thịnh hành trong vài năm trở lại đây, không chỉ bởi áp lực đem việc làm trở lại Mỹ, mà còn bởi sản xuất gần thị trường sở tại có nhiều lợi thế nhờ:
1. Giá dầu: Xu hướng sản xuất sang các thị trường giá rẻ một phần lý do là giá dầu thấp. Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, giá dầu đã tăng gấp 3 lần. Kết quả là chi phí vận chuyển tăng lên đáng kể so với ước tính ban đầu. Dù giá dầu hiện tại đang giảm nhưng còn giá các mặt hàng khác, và sản lượng khí thiên nhiên giá rẻ tại Mỹ ngày càng tăng. Điều này có nghĩa là đối với một số ngành công nghiệp thì chi phí sản xuất tại Mỹ sẽ thấp hơn việc sản xuất tại Trung Quốc.
2. Chi phí nhân công: Trong vài năm qua, chi phí lao động tại Trung Quốc tăng 20%/năm, so với 3%/năm tại Hoa Kỳ và 5%/năm tại Mexico. Vì vậy, khi chi phí nhân công là lý do chính các công ty chuyển sản xuất sang Trung Quốc từ 5, 7 hay 10 năm trước thì chắc họ cần phải xem xét quyết định đó từ lúc này.
3. Tự động hóa: Cảm biến giá rẻ, tốc độ máy tính và các công nghệ mới này càng thân thiện, phù hợp cho tự động hóa sản xuất giúp tăng năng suất. Tăng năng suất lao động đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp giảm chi phí nhân công. Và cũng vì thế họ cần đến nguồn nhân lực tay nghề cao, hơn là chỉ có chi phí lao động thấp.
4. Rủi ro: Các công ty đa quốc gia trong vài năm vừa qua đã nhận ra rằng chiến lược gia công hay sản xuất cố định tại một nơi đang tiềm ẩn nhiều rủi ro về chuỗi cung ứng do sự đa dạng về địa lý; do đó mà có rất nhiều vấn đề tiềm tàng, dễ phát sinh trong quá trình sản xuất và vận chuyển.
Một ví dụ điển hình gần đây là vụ nổ tại một nhà kho ở Thiên Tân liên quan đến việc mang vật liệu nguy hiểm, trong đó có vẻ như đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc của công ty. Điều này đã dấy lên những lo ngại về mức độ an toàn tại các nhà máy tại đây, cũng như yêu cầu hành động đánh giá lại chất lượng của nhà cung cấp và sản xuất để tăng tính linh hoạt, giảm thiểu nhiều rủi ro từ phía công ty chủ quản.
Và cũng chính tình trạng rối loạn tại Trung Quốc hiện nay phần nào đẩy nhanh xu hướng sản xuất đến gần nước sở tại. Tuy nhiên, sự tác động sẽ khác nhau tùy ngành và tùy từng công ty.
Đối với các ngành công nghệ cao (ví dụ sản xuất máy tính xách tay và điện thoại di đông) thì việc tái tạo cơ sở hạ tằng tại nơi khác ngoài Trung Quốc thì có vẻ khó khăn. Trong khi đối với các công ty quần áo và giày dép thì có vẻ dễ dàng di chuyển đến các địa điểm sản xuất có chi phí thấp hơn. Các nhà máy sản xuất công nghiệp nặng như máy móc, xe hơi mà chi phí vận chuyển trở nên đắt đỏ thì tốt hơn là nên di chuyển sản xuất đến những nơi gần với thị trường có nhu cầu.
Kinh tế Trung Quốc đang gặp vấn đề gì?
TS. Phạm Sỹ Thành
Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc - VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Sau khi thị trường chứng khoán (TTCK) Trung Quốc mất hơn 30% giá trị vốn hóa vào tháng 7, đồng Nhân dân tệ (NDT) phá giá hơn 3% vào tháng 8 và các số liệu kinh tế vĩ mô đầy thất vọng vào tháng 9, các tranh luận về triển vọng kinh tế Trung Quốc trong ngắn và trung hạn lại trỗi dậy mạnh mẽ với hai câu hỏi phổ biến “Kinh tế Trung Quốc đang thực sự gặp vấn đề gì?” và “Liệu kinh tế Trung Quốc có sụp đổ hay không?”
Theo Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành, đối với Trung Quốc việc chuyển đổi sang trạng thái bình thường mới (New Normal) không chỉ gồm một hệ các chỉ số mới mà quan trọng hơn cả, họ cần có một thể chế kinh tế mới thực sự thị trường.
Ông Thành hiện là Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc (VCES), thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Giới thiệu góc nhìn của một chuyên gia trẻ, chúng tôi hy vọng tìm kiếm, trước hết, cách tiếp cận cho lời giải về chủ đề sâu sắc và phức tạp nói trên.
Chúng tôi mong sẽ tiếp nhận nhiều ý kiến và đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc về chủ đề này.
Phần 1: Những câu hỏi nhìn từ thể chế
Như để trả lời cho sự lo lắng của thị trường, tại Hội nghị các bộ trưởng tài chính của nhóm G20 diễn ra vào tháng 9, thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC ) Chu Tiểu Xuyên trấn an các nhà kinh tế của 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới rằng: “Hiện tại, tỷ giá hối đoái của đồng NDT đang đi vào ổn định, sự điều chỉnh của thị trường chứng khoán gần như đã kết thúc, và thị trường tài chính đang cho thấy hy vọng bình ổn… mức độ vay nợ trên thị trường đã giảm nhiều, và chúng tôi nghĩ không còn rủi ro hệ thống”.
Trong khi đó, cũng tại hội nghị này, Lâu Kế Vĩ – Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc – nói rằng Trung Quốc sẽ duy trì tăng trưởng quanh ngưỡng 7% trong vòng 4-5 năm tới.
Còn tại Diễn đàn Kinh tế Davos tổ chức tại Liêu Ninh (Trung Quốc) vào ngày 10/9, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cho rằng “Trung Quốc không phải nguồn gốc các rủi ro của kinh tế thế giới mà là một trong những động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu”.
Ông Lý Khắc Cường cũng không quên nhắc lại với thế giới những cải cách quan trọng mà Trung Quốc đã và sẽ tiến hành.
Nhưng có thể thấy, những phát biểu mang tính trấn an của những vị trí lãnh đạo kinh tế chủ chốt của Trung Quốc đều trả lời các vấn đề mang tính “kĩ thuật và tức thời” của kinh tế Trung Quốc.
Cùng thời điểm những phát biểu nêu trên được đưa ra, EuroCham đã gửi lên chính phủ Trung Quốc một bản “Kiến nghị của doanh nghiệp Châu Âu tại Trung Quốc” trong đó bày tỏ sự lo ngại trước tình trạng Trung Quốc “chỉ cải cách không mở cửa”.
Bản kiến nghị cho rằng, những tiến triển trong lĩnh vực cải cách thị trường hóa tại Trung Quốc đã diễn ra vô cùng chậm chạp, khiến cho các doanh nghiệp châu Âu đang làm ăn tại Trung Quốc bắt đầu “khủng hoảng niềm tin”.
Ông Joerg Wuttke – Chủ tịch EuroCham tại Trung Quốc – khẳng định “Liên minh Châu Âu chưa từng chứng kiến một đường hướng chính sách tràn ngập mâu thuẫn ở đó tồn tại đồng thời cả (việc tiến hành) cải cách và đóng cửa. Tôi vô cùng lo lắng về việc xu thế cải cách đã giảm đi”.
Sau 3 năm dưới sự lãnh đạo của thế hệ lãnh đạo thứ 5, câu hỏi quan trọng hơn cả đối với kinh tế Trung Quốc – cũng là điều Trung Quốc cần trả lời cho thị trường – là liệu các cam kết cải cách theo hướng kinh tế thị trường có được nước này thực thi đầy đủ hay không?
Những biện pháp cải cách thị trường hóa có mạnh mẽ như mức độ hùng hồn trong tuyên bố của chính phủ Trung Quốc hay không?
Bởi đối với Trung Quốc việc chuyển đổi sang trạng thái bình thường mới (New Normal) không chỉ gồm một hệ các chỉ số mới mà quan trọng hơn cả, họ cần có một thể chế kinh tế mới thực sự thị trường.
Trung Quốc đã chuyển đổi được 35 năm, quốc gia này cũng gia nhập WTO được 15 năm và đang vận động cho sự ra đời của RCEP, nên có rất ít lí do để nói rằng Trung Quốc chưa quen thuộc với hệ thống luật quốc tế. Nếu muốn trở thành người thay đổi luật chơi (rule-maker), Trung Quốc trước hết cần là người tuân thủ luật chơi (rule-taker). Đã đến lúc PBoC nói riêng và Trung Quốc nói chung cần chuyển từ ứng xử theo “thuật” (thói quen cá biệt) sang theo “đạo” (luật lệ, thông lệ quốc tế).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét