Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Sự thật mất lòng

Hôm trước ngồi nghe TS kinh tế Bùi Kiến Thành nói về kinh tế Việt Nam bảo rằng: "Nền kinh tế Việt Nam chả có gì. Vì FDI có tỷ trọng đầu tư rất thấp vào Việt Nam mà chiếm đến 70% tỷ trọng xuất khẩu. 30% còn lại là doanh nghiệp trong nước, mà 30% ấy cũng chỉ làm gia công lại cho nước ngoài, chứ có làm cái gì ra hồn đâu, ngoại trừ nông dân bám ruộng và ngư dân bám biển kiếm cho kinh tế khoảng 3%.

Tôi không biết các quan tái cơ cấu cái gì, với nền kinh tế như thế thì có vào 10 cái hay 100 cái TPP cũng chẳng lợi ích chi. Nhưng báo chí cứ thổi phồng. Vấn đề cấp bách hiện nay là chuyển đổi thể chế chính trị để huy động sức sáng tạo của dân, chứ không phải tái cơ cấu hay vào TPP."


Mình thấy đúng quá. 70 năm "độc lập" và 40 năm cỡi trói, mà cả đất nước 90 triệu dân lại có nền kinh tế tự chủ chỉ 3% nhờ vào nông dân và ngư dân. Còn các thành phần khác toàn làm thuê, bán sức lao động cho nước ngoài là sao?


Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp

Tư Giang
28/8/2015, 23:30 (GMT+7)

(TBKTSG) - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, ông Trần Đình Thiên, trao đổi với TBKTSG về tình trạng nhập siêu với Trung Quốc và hệ lụy của nó.

TBKTSG: Ông đã từng nêu quan điểm cần hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc, đặc biệt là khi có vụ giàn khoan HD 981 năm ngoái. Nhưng rồi...

- Ông Trần Đình Thiên: Khi có vụ giàn khoan tôi cứ tưởng chúng ta chuyển hướng được thị trường nhưng rồi nhập siêu tiếp tục tăng lên đến gần 30 tỉ đô la Mỹ trong năm 2014. Ở các diễn đàn kinh tế, có nhiều người nói sợ ngưng thương mại, nhưng tôi luôn khẳng định ngưng được là tốt. Chúng ta cần biết cắn răng chịu đau đớn để thay đổi cấu trúc. Nhưng chúng ta cứ vì ngắn hạn mà lơ đi dài hạn...

TBKTSG: Nhìn vào cấu trúc xuất nhập khẩu hai nước, ông thấy điều gì?

- Chúng ta xuất gì? Toàn là hàng nông sản thô, khoáng sản thô. Mình xuất thế là toàn bị thiệt, để các doanh nghiệp của họ làm tiếp và hưởng hết giá trị gia tăng. Còn mình nhập của họ rất nhiều, hầu hết là nguyên liệu đầu vào, để không phải làm.

Chúng ta nhập hàng của họ để lắp ráp, gia công, nghĩa là chúng ta xuất khẩu hộ họ, và chỉ được hưởng có tí giá trị thôi. Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp. Còn họ thì xuất “ăn” đường xuất, nhập “ăn” đường nhập.
Ngay cả về biên mậu, họ cũng khác hẳn mình. Họ khuyến khích người dân dùng xe ba gác thồ quặng về còn chúng ta khuyến khích người dân sang cõng hàng về.

Cấu trúc kinh tế của chúng ta sai lệch quá rồi, không sao thay đổi được.

TBKTSG: Vậy thì ai là người có lỗi? Doanh nghiệp hay chính sách?

- Do hệ thống chính sách định hướng chứ, từ tỷ giá, lãi suất, đất đai, hệ thống động lực... làm sao mà đổ lỗi cho doanh nghiệp được! Hệ thống chính sách đó nó làm cho cơ cấu kinh tế sai lệch, không khuyến khích sản xuất trong nước, làm các ngành công nghiệp luôn nằm ở đáy của chuỗi giá trị.

TBKTSG: Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà chúng ta đã và sẽ ký đều coi trọng quy tắc nguồn gốc xuất xứ. Trong bối cảnh nguyên liệu, vật liệu đầu vào phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc như hiện nay thì tình hình sẽ như thế nào?

- Đây là vấn đề quá khó để trả lời. Tôi cũng chưa hình dung nổi chúng ta sẽ chuyển hướng ra sao, và nếu không chuyển hướng thì được hưởng lợi gì từ các FTA. Nguồn gốc xuất xứ là vấn đề rất khó khăn, và nhạy cảm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong ngành dệt may từ Trung Quốc đã chuyển sang đây để đón đầu TPP. Và điều này chúng ta phải chịu.

TBKTSG: Vì sao chúng ta tham gia nhiều FTA như vậy? Điều này có tốt không cho tổng thể nền kinh tế?

- Có nhiều chuyên gia nói các FTA đều có lợi và cần hưởng ứng hết các FTA. Nhưng vấn đề là năng lực của nền kinh tế, năng lực của doanh nghiệp nội địa chỉ có vậy thôi. Lẽ ra, chúng ta chỉ dồn cho một vài FTA thì doanh nghiệp còn vùng lên được, đây có mười mấy FTA thì năng lực đâu mà tận dụng hết? Điều đó dẫn đến nguy cơ: ông mang cái lợi ấy cho kẻ khác hưởng. Cứ xem các doanh nghiệp FDI đã chiếm tới hơn 70% giá trị nhập khẩu. Trong khi đó, các vòng xoáy FTA rất nhiều, đan xen vào nhau, thì các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái Lan sẽ hưởng lợi, chứ có phải doanh nghiệp Việt Nam đâu.

TBKTSG: Chẳng qua là thể chất, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam yếu quá?

- Đó là nguyên nhân trực tiếp, nguy hiểm hiện nay, còn nguyên nhân sâu xa thì phải nhìn lại là lịch sử...
Trong chuyện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thì mỗi năm các doanh nghiệp Việt Nam cũng “bán mình” tới năm tỉ đô la Mỹ. Trong một cuộc họp gần đây, tôi nói, bất kỳ chính sách kinh tế đối ngoại nào mà chúng ta đang làm cũng dường như để thể hiện mình tự do hóa thị trường. Vấn đề là điều đó tác động như thế nào, và sẽ chịu hậu quả gì trong tương quan kinh tế với Trung Quốc? Lẽ ra, phải có tính toán, dự liệu rồi mới quyết định chính sách đó về mặt thời gian, về mặt liều lượng. Chẳng hạn, khi quyết định bán bất động sản cho người nước ngoài, vâng, tốt thôi. Song, vấn đề là khi nhà đầu tư Trung Quốc vào mua với số lượng lớn, thì sẽ tác động như thế nào, ai có thể cạnh tranh với họ?

Hay chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bán cổ phần cho doanh nghiệp nước ngoài, nới room. Về mặt nguyên lý là tốt rồi, cần chuyển nguồn lực cho doanh nghiệp tư nhân. Nhưng vấn đề, co kẻ đang há mồm đứng phía sau kia, vớ vẩn là nó đớp luôn cả ngành công nghiệp, chứ không chỉ là vài doanh nghiệp. Thậm chí bỏ ra vài tỉ đô la là họ thao túng luôn thị trường chứng khoán... Có những vấn đề đó!

TBKTSG: Những câu chuyện này bị nhiều chuyên gia, không chỉ ông, phản ứng. Nhưng vì sao vẫn cứ như vậy?

- Nên hiểu tình thế chúng ta là khó. Chúng ta làm được cái này thì mất cái kia, nhưng cái được là ngắn hạn, còn cái mất là dài hạn. Ta phải nhắm mắt lại để được cái trước mắt đã, vì chúng ta bí đến thế.


“Việt Nam cần tạo ra một nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ”

Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới nhận định “Việt Nam cần tạo ra một nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ”.

Sáng 28/7, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2015 chủ đề: “Kinh tế Việt Nam- Hội nhập và phát triển bền vững” đã chính thức được khai mạc tại Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái FLC Sầm Sơn (Thanh Hoá).

Diễn đàn lần này chỉ diễn ra trong 1 ngày duy nhất với 2 trình bày đễ dẫn từ đại diện Bộ Công thương và Ngân hàng Thế giới (WB), sau đó các chuyên gia, đại biểu sẽ thảo luận xung quanh 2 bài trình bày nêu trên.

Mô hình phát triển khác biệt Hàn Quốc

Ông Sandeep Mahajan đã đánh giá cao việc Việt Nam khai thác các cơ hội tăng trưởng bằng cách hội nhập kinh tế sâu hơn bao gồm cả việc việc thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do với các nước ASEAN và các đối tác lớn khác ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Theo ông Sandeep Mahajan, là một nền kinh tế thương mại quy mô nhỏ và ngày càng mở cửa, Việt Nam sẽ đạt được nhiều lợi ích từ tự do hóa thương mại, ước tính ban đầu cho thấy Hiệp định TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng trưởng thêm tới 8%.

Vị chuyên gia đến từ WB cũng cho biết, Việt Nam đã chủ động ứng dụng các hiệp định thương mại bao gồm cả việc gia nhập WTO như một cách định hướng và ràng buộc quá trình cải cách chính sách thương mại trong nước.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng, còn nhiều vấn đề cần xử lý trong các lĩnh vực như dịch vụ và đầu tư, cả hai đều quan trọng để tăng trưởng mạnh mẽ trong trung hạn.

"Mặc dù Việt Nam đã nhận được dòng vốn FDI chảy vào khá đáng kể trong những năm qua, trong môi trường kinh doanh vẫn tồn tại tình trạng không rõ ràng, có thể ngăn cản ít nhất là một vài hoạt động có lợi. Việt Nam đã thực hiện tự do hóa thuế quan đối với hàng hóa sau khi gia nhập WTO nhưng từ đó đến nay đã có những bước lùi", ông Sandeep Mahajan nêu nhận định.

Đánh giá việc Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, ông Sandeep Mahajan cho biết, sự linh hoạt của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu mang lại cả thách thức và cơ hội cho triển vọng phát triển của Việt Nam.

So sánh với Hàn Quốc, vị chuyên gia cho rằng, mô hình phát triển của Việt Nam khác biệt so với Hàn Quốc vì ở Hàn Quốc những tập đoàn kinh tế lớn đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung và phối hợp hoạt động trên các ngành bao gồm điện tử dân dụng và thiết bị vận tải.

Trong khi đó, tại Việt Nam trọng tâm không phải là phát triển toàn diện chuỗi cung ứng của quốc gia mà là phát triển năng lực ở những khâu cụ thể tạo thành một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu với các công việc khác nhau thực hiện ở những địa điểm khác nhau.

"Đằng sau hiện trạng này, sự phát triển của Việt Nam ngụ ý bước đầu tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, một thủ tục đã được triển khai khá tốt trong nhiều ngành sau đó “dịch chuyển lên” trong chuỗi cung ứng toàn cầu để thực hiện những hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn", ông Sandeep Mahajan phân tích.

“Viet Nam can tao ra mot nen kinh te tu nhan manh me”

Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới

Từ những phân tích trên, theo ông Sandeep Mahajan, vấn đề Việt Nam hiện đang đối mặt không phải lựa chọn đúng doanh nghiệp hay ngành cho 20 năm tới mà là sắp đặt đúng vị trí cấu trúc, thể chế và hạ tầng để tạo nên nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ. Trong đó, các nguồn lực có thể dịch chuyển nhanh chóng về phía những doanh nghiệp có sức cạnh tranh.

"Trong bối cảnh toàn cầu, với việc Việt Nam đang trải qua một quá trình tăng trưởng dồn ép, thách thức chính sách là cần nhận diện những sự can thiệp chiến lược để hỗ trợ và củng cố hoạt động của cơ chế thị trường", ông kiến nghị.

FDI vận hành "khép kín"

Đánh giá về hoạt động thương mại của Việt Nam gần đây, ông Sandeep Mahajan cho biết, trong thời gian dài hơn, không chỉ tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mà cấu trúc hàng xuất khẩu cũng quan trọng và đặc biệt là mức độ công nghệ mà chúng bao hàm.

Điều này được chứng minh thông qua các con số từ năm 2008 đến năm 2013, xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao trong tổng hàng hóa xuất khẩu sản xuất theo phương pháp công nghiệp tăng từ 5% lên 28%, tương đương với Trung Quốc và cao hơn mức trung bình của khối ASEAN.

Đồng thời, vị chuyên gia này cũng cho biết, mặc dù có xuất phát điểm thấp, ngành công nghệ hiện đang bùng nổ, một phần là nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đáng kể từ các công ty công nghệ.

Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh, phần lớn vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng vận hành một cách khép kín, tạo ra ít hy vọng chuyển giao công nghệ hoặc hiệu ứng lan tỏa xuôi dòng tới các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo phân tích của ông Sandeep Mahajan cách thức FDI ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và năng suất của doanh nghiệp địa phương phụ thuộc vào các chính sách cũng như môi trường kinh doanh và trình độ công nghệ của doanh nghiệp.

"Điều kiện cơ bản để có hiệu ứng lan tỏa từ FDI là sự tồn tại của khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài", ông Sandeep Mahajan nói.

Cũng theo ông ông Sandeep Mahajan Việt Nam đang trải qua một làn sóng công nghiệp hóa và thay đổi về cấu trúc chưa từng có, đất nước đang bước vào giai đoạn “phát triển dồn ép”, tạo ra những thách thức mới cho các nhà hoạch định chính sách.

The Crash of 2016 Gets Closer Every Day

Jul. 3, 2014

The denial of fundamental economic principles is setting the world up for another Great Crash.

Although wages have been flat or declining since the West started following Thatchernomics and Reaganomics in the late '70s and early 1980s, the stock market has risen to all-time highs. Billions – hundreds of billions – have been made by individuals on Wall Street. Meanwhile over 60,000 factories have closed in United States just in the past 14 years, and over 50 million Americans are either unemployed or underemployed.

In Europe, with the exception of the Scandinavian countries who are ignoring our economic advice, the situation is very similar. Other then Germany, which is becoming a major extractor of wealth from the rest of the EU, European countries and Great Britain are following the same fallacy that has been driving US economic policy for more than 30 years.

The Financial Times on June 29, 2014, with reporting by Sam Fleming and Claire Jones, lead their front page with the warning that "Bank for International Settlements warns 'Euphoric' Markets." The article notes that capital markets are "extraordinarily buoyant," according to the Bank of International Settlements, and argues that central banks around the world "should not fall into the trap of raising rates 'too slowly and too late.'"

They correctly point out how low interest rates have caused an explosion worldwide of corporate debt. Meanwhile, not noted in the article, for-profit corporate banks have discovered that instead of lending money to working-class people to buy homes or cars, it has become more profitable to simply borrow from central banks at very low interest rates, often less than 1%, and then park that money in government treasuries which pay 2% or 3%, in effect loaning the country's money back to the same government at a profit.

Similarly, huge transnational corporations from tech companies to pharmaceutical companies, are hoarding cash in offshore tax havens where it's not available to stimulate local economies, or they're making acquisitions based on fiscal strategies rather than how to best manufacture the best product.

Completely lost in the debate between the BIS and the IMF over simulative central-bank strategies is a simple economic fact. Economies are driven by demand, and the principal component of demand is wages.

Instead, the Financial Times noted that the Bank of International Settlements is "calling for policymakers to halt the steady rise of debt burdens around the world and embark on reforms to boost productivity." This echoes the old Reaganomics line that increased productivity equals a growing economy. Make more things and people will buy more things.

But productivity has been rising steadily in the United States since the 1930s, but since the early 1980s it has become uncoupled from wages, which have remained flat or fallen. Even as individual companies become more productive, producing more goods with lower costs and less labor, the economy has been stagnant because there is little demand for those goods. And that's because of the simple Econ 101 maxim, which dates back to Adam Smith, that demand is what drives economies, and that wages are the principal driver of demand.

The majority of American workers spend 100% or more (they go in debt) of their wages, and all but the top few percent of American workers save anything close to even 10% of their wages. It is their spending that creates demand. As wages flatten or drop, and as the ability of unemployed people to continue buying things is cut by the Republican efforts to cut long-term unemployment over the past six months, demand falls.

Meanwhile, large corporations, wealthy people, and banks are all making money simply playing with money. This "financialization" of our economy is driving us to the edge of a massive crash. Policymakers, from the Fed to the IMF to the BIS to the US Congress and the White House should all be looking back at the lessons of the 1930s – because we're about to learn them all over again.

Wages for working people, not the wealth of the rich, corporate income, or banking profits are what both drive and sustain an economy. As long as those wages remain stagnant or falling, there will not be sufficient demand to keep an economy from collapsing under the weight of its own high-end gamblers and the growing debt of its young and working-class people just trying to get by.

While inflation Hawks are hysterical about the possibility of our repeating the inflation of the 1970s if central banks raise their rates or stop buying bad corporate or good government debt, they fail to remember that most of the inflation of that era was driven by oil price shocks, and that it did not, by and large, impair the ability of average people to continue to gain wealth and buy homes.

(With rare exceptions, inflation is not caused by government borrowing or "money printing," but by shortages in essential commodities. In the United States in the 70s it was principally oil shortages that drove inflation; more recently in Zimbabwe it was food. The intentional hyperinflation of Germany in the 1920s was simply a "screw you" response to the Treaty of Versailles, which imposed punishing debt on Germany for World War I, and which John Maynard Keynes warned would provoke the next great war. He was right and the conventional wisdom among international policymakers was wrong.)

History – and the examples of Germany and Scandinavia – show us that high levels of unionization, trade and taxation policies that favor the working class over the rich, and heavy regulation of the banking and speculative industries will build a strong and healthy working and middle-class, and thus a strong and healthy economy. Instead, the United States and much of the EU still cling to Thatchernomics and Reaganomics, and the result is the continuing decline of both economies.

Until the corporate elite and our billionaire class are under control, and our working class once again can enter the middle class, we stand at the precipice of a great crash. Without vigorous governmental action to radically reduce student and working family debt, increase wages, and suppress speculation, that crash comes closer to us every day.

- See more at: http://www.thomhartmann.com/blog/2014/07/crash-2016-gets-closer-every-day#sthash.Ol2QC7dx.dpuf

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Tắt Facebook đi, 37 trang web sau sẽ giúp bạn học thêm nhiều điều hay

Thay vì dành hết thời gian rảnh rỗi để lướt Facebook, bạn có thể nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình với 37 trang web sau.

Các khóa học trực tuyến
edx: Bạn có thể vào trang web này để tham gia các khóa học trực tuyến của các trường hàng đầu thế giới.
Coursera: Trang web này cung cấp miễn phí các khóa học trực tuyến tốt nhất thế giới.
Coursmos: Bạn có thể tìm thấy những khóa học thuộc các lĩnh vực khác nhau tại trang web này.
Highbrow: Với trang web này, bạn có thể nhận được các khóa học hàng ngày ngay ở trong hòm thư của mình.
Skillshare: Các lớp học và dự án trực tuyến giúp bạn phát triển khả năng sáng tạo của mình.
Curious: Bạn có thể nâng cao các kỹ năng của mình với những bài học được dạy qua video tại đây.
lynda.com: Nếu bạn muốn học thêm về công nghệ, kỹ năng sáng tạo và kinh doanh, hãy tham khảo trang web này.
CreativeLive: Trang web này cung cấp cho bạn những khóa học miễn phí về sáng tạo từ các chuyên gia hàng đầu thế giới.
Udemy: Đây là trang “trường học trực tuyến” với rất nhiều môn học thuộc nhiều thể loại như lập trình web, photoshop, thiết kế đồ họa...
Học cách viết code
Codecademy: Trang web dạy code miễn phí.
Stuk.io: Bạn có thể học về code từ những kiến thức cơ bản nhất tại đây.
Udacity: Các chương trình học giúp bạn nhận được chứng chỉ nano-degree.
Platzi: Học trực tuyến về thiết kế, marketing và code.
Learnable: Một trong những trang tốt nhất để học phát triển web.
Code school: Học code bằng cách thực hành.
Thinkful: Nâng cao cơ hội nghề nghiệp với người cố vấn trực tuyến của bạn.
Code.org : Bạn có thể bắt đầu học về code hôm nay với các bài giảng cơ bản.
BaseRails: Rèn luyện Ruby on Rails và các công nghệ web khác.
Treehouse: Tìm hiểu HTML, CSS, các ứng dụng iPhone và hơn thế nữa.
One month: Học code và xây dựng ứng dụng web trong vòng 1 tháng.
Dash: Dạy cách tạo ra một trang web tuyệt vời.
Học cách làm việc với số liệu
DataCamp: Trang web cung cấp các khóa đào tạo về khoa học dữ liệu.
DataQuest: Bạn cũng có thể tìm hiểu về khoa học dữ liệu tại trang web này.
DataMonkey: Trang web giúp bạn phát triển các kỹ năng phân tích một cách đơn giản nhưng thú vị.
Học ngoại ngữ
Duolingo: Bạn có thể học ngoại ngữ miễn phí tại đây.
Lingvist : Trang web này giúp bạn tìm hiểu một ngôn ngữ trong 200 giờ.
BUSUU: Cộng đồng học ngoại ngữ miễn phí.
Memrise : Sử dụng Flashcard để học từ vựng.
Mở rộng kiến thức
TED-Ed : TedEd khơi dậy sự tò mò của những học viên vòng quanh thế giới bằng cách tạo ra một thư viện các bài giảng được đánh giá cao.
Khan Academy: Không chỉ mang đến cơ hội được tiếp cận với kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực, Khan Academy còn có các tính năng cho phép người dùng luyện tập và theo dõi các số liệu liên quan đến việc học của mình.
Guides.co: Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn thú vị tại trang web này.
Squareknot: Nếu muốn mở rộng kiến thức của mình, bạn cũng có thể tham khảo trang web Squareknot.
Learnist: Nơi bạn có thể khám phá và chia sẻ rất nhiều kiến thức với mọi người thế giới
Prismatic: Bạn có thể học thêm nhiều điều thú vị từ những lời gợi ý.
Các web khác
Chesscademy: Nếu bạn muốn học chơi cờ miễn phí thì đây là trang web bạn nên tham khảo.
Pianu: Bạn có thể học chơi piano trực tuyến tại đây.
Yousician: Trang web này giống như một gia sư riêng giúp bạn học chơi guitar.
Xem thêm:[Infographic] Stanford và MIT, trường nào tốt hơn?

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Special report 2: Dệt may và các FTA với EU, Mỹ (TPP) trong bối cảnh leo thang chiến tranh tiền tệ

Chuyên gia nhận định rằng các nhà bán lẻ Mỹ ko thích việc giao dịch qua nhiều trung gian, mà muốn đặt hàng hay giao dịch trực tiếp với nhà SX VN nhưng yêu cầu xuất xứ hàng hóa chặt chẽ - “phải làm từ sợi trở đi” (yarn forward), trong khi thị trường EU thì tuy thời gian giảm thuế có lâu hơn, nhưng yêu cầu quy tắc xuất xứ nhẹ hơn chỉ hai công đoạn - chỉ vải và may phải làm ở VN, dễ đáp ứng hơn so với quy tắc “yarn forward”.

- Đối với thị trường Mỹ, sau TPP: Ông Lê Quốc Ân, trưởng ban cố vấn Hiệp hội Dệt may VN, cho biết trước năm 2000, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may VN chỉ hơn 45 triệu USD. Sau khi Hiệp định thương mại song phương VN - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết vào năm 2001, kim ngạch xuất khẩu lập tức vọt lên 1 tỉ USD trong năm sau đó và đến năm 2014 con số này đã lên hơn 10 tỉ USD, chiếm 10% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Hoa Kỳ.
“Dù thuế suất không về 0% ngay lập tức sau khi TPP được ký kết nhưng theo nhẩm tính chỉ riêng 10 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu dệt may hiện nay, hàng dệt may cũng giảm được 1,7 tỉ USD tiền thuế.
Chắc chắn các mặt hàng sẽ giảm theo lộ trình, nhưng chỉ cần giảm được một nửa số tiền trên, sức cạnh tranh hàng dệt may VN sẽ được nâng lên rõ ràng, cơ sở cho hàng VN tăng thị phần lên gấp đôi so với hiện nay là hoàn toàn có thể.
Theo ông Ân, trong xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, sự cải thiện chuỗi giá trị gia tăng của ngành dệt may VN mới là điểm nhấn quan trọng. Trong hơn 24 tỉ USD xuất khẩu của ngành dệt may, giá trị thặng dư VN được giữ lại lên 50% chủ yếu nhờ vào thị trường Hoa Kỳ.
Hầu hết nhà xuất khẩu VN đều làm việc trực tiếp với nhà nhập khẩu Hoa Kỳ hoặc chỉ qua một cấp, nhờ đó giá trị gia tăng cho ngành dệt may ngày càng được cải thiện, tăng nhiều hơn.
Bên cạnh những lợi ích từ việc giảm thuế, thị phần của các mặt hàng may mặc và dệt may Việt Nam tại Mỹ, hiện đang ở mức 10 phần trăm, có thể có một cơ hội để tăng gấp đôi trong thập kỷ tới.
Trong mười năm qua, các sản phẩm may mặc và dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đã tăng 398 phần trăm về giá trị và được hưởng một tỷ lệ tăng trưởng trung bình 15 phần trăm mỗi năm.
Năm ngoái, kim ngạch xuất khẩu đứng đầu 10 tỷ USD, chỉ đứng sau Trung Quốc.
Trong năm 2014, các lô hàng dệt may Trung Quốc sang Mỹ lên tới 42 tỉ USD, chiếm thị phần 37 phần trăm.
Vì vậy, khi TPP được ký kết, khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc tại thị trường Mỹ sẽ được thu hẹp.
Nhưng điều quan trọng hơn, theo An, là nâng cao năng lực của các nhà sản xuất hàng may mặc và dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị gia tăng trên thế giới.
- Đối với thị trường EU: ông LƯƠNG HOÀNG THÁI, vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên Bộ Công thương, cho biết hiện thuế với dệt may vào EU cao nhất là 17% và họ đã dành cho VN mức thuế ưu đãi hơn Trung Quốc, chỉ khoảng 9%. Kim ngạch hàng dệt may VN vào EU tương đối lớn, vì vậy cuối cùng hai bên đồng ý nguyên tắc “có đi có lại”, tức là lộ trình của hai bên tương đương nhau, tối đa bảy năm mới đưa thuế về 0%.
Còn dệt may EU vào VN muốn được hưởng ưu đãi cũng phải đảm bảo xuất xứ hai công đoạn, tức là vải và may phải ở EU. Trong khi đó, tại EU gần như không còn nhà máy may mặc nữa. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt ở phân khúc cao cấp và họ còn có thể đảm bảo được xuất xứ. Những mặt hàng đó giá rất đắt, kim ngạch không đáng kể. Nhiều doanh nghiệp dệt may VN đều đánh giá về tổng thể thì cam kết về dệt may là có lợi cho hoạt động của mình.
- Tuy nhiên, với những diễn biến mới nhất , FTA với EU chỉ chờ ngày kí chính thức, khả năng có hiệu lực từ 2016 là rất cao, trong khi đó TPP với Mỹ có nguy cơ ko kịp kết thúc trong năm nay, và nguy cơ phải dời lại các phiên thảo luận chốt lại TPP vào 2017 khi nước Mỹ có tổng thống mới, và chưa chắc khi đó tổng thống và chính quyền mới ủng hộ TPP như giờ. Hiện giờ trở ngại trong đàm phán nằm trong nhiều vấn đề, chủ yếu giữa Mỹ, Nhật, New Zealand, Canada, đối với các lĩnh vực nông nghiệp, xe hơi, bảo hộ bản quyền trí tuệ cho ngành dược.
- Bối cảnh KT và thương mại thế giới đang diễn biến phức tạp hơn, với việc TQ phá giá đồng NDT 3.5% trong hai ngày.
Hành động này của TQ thật sự là một cơn bão quét qua thị trường KT tài chính QT, nhấn chìm khả năng DN các nước khác có những ngành cạnh tranh trực tiếp với hàng TQ như ngành dệt may VN, có thể dc hường lợi dc thông qua cá FTA kí với EU hay Mỹ, do hàng TQ sẽ có giá rẻ hơn nữa.
Đằng sau sự tăng giá đồng NDT có thể nói TQ giảm giá đồng NDT trong 2 ngày vừa qua khoảng 3,5% thì bản chất của nó có thể nói là xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chủ yếu.
1. TQ muốn kích thích nền kinh tế giúp cho tăng trưởng, cho xuất khẩu lấy lại đà phục hồi sau khi bị suy giảm 8,3% trong tháng 7 so với cùng kỳ năm trước, cũng như để duy trì tăng trưởng.
2. Trước áp lực phải linh hoạt cơ chế tỉ giá khi TQ đang đàm phán với IMF để quốc tế hóa đồng NDT, đưa đồng NDT vào nhóm đồng tiền thuộc quyền rút vốn đặc biệt, tức là đưa đồng NDT thành đồng tiền dự trữ quốc tế.
Việc họ thay đổi cơ chế tỉ giá hối đoái thông qua việc thay vì công bố tỉ giá bình quân liên ngân hàng hằng ngày thì nay họ chuyển qua cơ chế mới: hằng ngày khoảng 9g15, Ngân hàng Nhân dân TQ lấy tỉ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỉ giá mở cửa ngày hôm sau.
Việc thay đổi cơ chế tỉ giá này hiện đang gặp phải một sự phản ứng mãnh liệt từ phía Mỹ cũng như các nước phương Tây khi cho rằng việc định giá như thế ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Tuy nhiên, thị trường vẫn cảm nhận rằng nếu như TQ theo đuổi cơ chế tỉ giá hối đoái mới cho cung cầu tác động đến tỉ giá thì có thể nói trong tương lai đồng NDT không mất giá thêm mà có thể quay lại để tăng giá.
- Sự tác động của kinh tế TQ tới VN là lớn: đồng NDT của TQ từ năm 2005 tăng giá khoảng 30%. Trong khi đó từ năm 2005, 1 USD có giá khoảng 15.500 VND nay tăng lên 22.000 đồng, tức VND mất giá gần 40%.
TS Nguyễn Đức Thành, viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng việc việc TQ giảm giá đồng NDT 1,9%, sau đó lại tiếp tục nới tiếp 1,6% dù trước đó khẳng định chỉ điều chỉnh tỉ giá một lần, được coi như khơi mào cuộc chiến tiền tệ.
“Ngân hàng Nhà nước có phản ứng tức thời, nới biên độ tỉ giá thêm 1%, theo tôi là kịp thời và tích cực. Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách đã nhiều lần đề nghị VN giảm giá đồng tiền của mình. Chúng tôi theo dõi thì thấy đồng yen của Nhật đã giảm giá khoảng 30% trong mấy năm qua. Đồng euro của EU cũng đã giảm giá ở tầm ấy. Đồng rup của Nga thì giảm giá mạnh. Mà các đối tác trên đều rất quan trọng với VN. Trong khi đó, đồng tiền của VN lại vẫn cơ bản giữ giá với đồng USD. Nó làm cho hàng VN đắt hơn, chi phí ở VN cũng đắt hơn. Việc giảm khách du lịch theo chúng tôi cũng là một hệ quả đã xảy ra”.
Theo ông Thành: “Lần này TQ phá giá đồng tiền tới 3,5% chỉ trong hai ngày cho thấy ngay đến TQ cũng đã phải hành động. Cần lưu ý là đồng NDT đang có xu hướng tăng giá, nhưng họ lại quyết định phá giá tới 3,5%, và có thể chưa dừng lại. Nên nếu VN không theo kịp thì theo tôi, VN sẽ chịu hậu quả cực kỳ to lớn. Hàng TQ vào VN sẽ rẻ hơn, có lợi thế hơn và nó sẽ cạnh tranh với cả hàng xuất khẩu của VN tại các thị trường quan trọng nước ngoài chứ không chỉ trong nước”.
Vì vậy, ông Thành cho rằng đồng tiền của VN phải được giảm giá mạnh hơn mức giảm giá của NDT. Nếu không làm được điều này thì sẽ là một thách thức đối với VN.
Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch & Đầu tư), việc nhân dân tệ yếu đi sẽ gây tổn hại đến hoạt động xuất khẩu sang Trung Quốc, đặc biệt là nông sản, khi đây là nơi tiêu thụ chính của Việt Nam. Ngoài ra, hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc, bao gồm dệt may, thủy sản... sẽ trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế so với sản phẩm tương tự của Việt Nam.
-- Trích Vnexpress: Ông Lê Quang Hùng - Chủ tịch HĐQT Công ty May Garmex cho biết doanh nghiệp đã ký hợp đồng mua nguyên liệu, bán hàng hóa với các đối tác Trung Quốc đến hết năm. Các hợp đồng này đều có giá trị tính bằng USD nên việc điều chỉnh tỷ giá nhân dân tệ, trước mắt chưa gây ra hệ lụy. Tuy nhiên, tình hình sẽ trở nên khó khăn vào năm sau, khi các đơn hàng mới được ký.
"Công ty dự kiến chi hơn 20 triệu USD nhập nguyên phụ liệu từ Trung Quốc. Trong bối cảnh các đối tác mua hàng vẫn chỉ định nguồn nhập nguyên phụ liệu và thấy hàng Trung Quốc giảm giá, họ có thể sẽ ép giá hàng từ Việt Nam", ông nói.
Sản phẩm VN vào châu Âu, Nhật Bản ngày càng khó cạnh tranh với hàng "Made in China". Theo đó, dù có được hưởng lợi từ Hiệp định thương mại tự do với EU, thuế xuất khẩu dệt may sẽ giảm từ 9% về 0% trong 7 năm, song do Trung Quốc đã phá giá 3%, những ưu đãi này có thể "không còn gì hết".
"Việt Nam vừa tăng biên độ tỷ giá thêm 1% để tháo gỡ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, song hàng hóa vẫn đắt hơn Trung Quốc vì mức thay đổi của họ lên tới 3,5%. Hàng Trung Quốc cũng rất phong phú nên có thể nhà nhập khẩu sẽ ham đồ của họ hơn. FTA tuy hoàn tất nhưng chưa biết bao giờ ký, trong khi những rủi ro này sẽ tới trong thời gian ngắn".
Bà Đặng Phương Dung - Phó chủ tịch Hiệp hội dệt may nhận định việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ tuy chưa ảnh hưởng trong ngắn hạn nhưng nhìn xa hơn, điều này vô hình chung sẽ khuyến khích nhập khẩu, không chỉ với ngành dệt may mà với cả máy móc.
"Khi đó, các doanh ngiệp trong nước sẽ ít đầu tư cho việc nội địa hóa. Mà điều này, về dài hạn sẽ rất bất lợi cho hàng hóa Việt Nam đáp ứng các điều kiện về xuất xứ để được hưởng ưu đãi về thuế trong các hiệp định thương mại, như với TPP".
Một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng thừa nhận việc đồng nhân dân tệ mất giá so với đôla Mỹ khiến cho mục tiêu doanh thu nửa tỷ USD năm nay của họ bị ảnh hưởng.
Vị này tính toán, khi doanh nghiệp xuất một lô hàng trị giá 3 triệu NDT, với tỷ giá NDT/USD trước đây là 6,2298 thì lô hàng ấy quy đổi ra được 482.000 đôla Mỹ. Nay mỗi USD quy đổi bằng 6,3306 đồng nhân dân tệ thì lô hàng ấy quy ra USD chỉ còn khoảng 474.000 USD, sụt gần 8.000 USD. "Nếu tình hình nhân dân tệ còn giảm thì khả năng chúng tôi sẽ phải điều chỉnh lại mục tiêu doanh thu”.
-- Ở góc độ vĩ mô, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, Hiệu trưởng trường Đại học tài chính Marketing (Bộ Tài chính) phân tích trong cán cân thương mại chung, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ chiếm 10% tỷ trọng, nhưng ở chiều nhập khẩu là 30%. Với tình hình trên, nếu cơ quan điều hành không có những phòng vệ thích đáng thì nhập siêu từ Trung Quốc sẽ tăng mạnh, vì nhân dân tệ mất giá thì hàng hoá của Trung Quốc vào Việt Nam sẽ rất rẻ, gây khó khăn cho sự cạnh tranh của các sản phẩm trong nước.
-- Báo cáo ngày 11/8 của Công ty Chứng khoán TP HCM (HSC) cũng cho rằng đồng nhân dân tệ mất giá sẽ tác động tiêu cực đến cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc. Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam ghi nhận mức thâm hụt 16,5 tỷ USD với Trung Quốc, trong đó nhập khẩu tăng 23% còn xuất khẩu chỉ tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. "HSC ước tính sự giảm giá 1% của đồng nhân dân tệ sẽ làm tăng thâm hụt thương mại.


Special report 1: Một cơn bão tài chính hoàn hảo (perfect storm) đang đến


Tình hình cỏ vẻ giống bối cảnh một vài nước châu Á sắp lâm nạn khi khủng hoảng TC châu Á nổ ra 1997.
Perfect storm là một khái niệm nhằm chỉ ra nhiều yếu tố tích hay tiêu cực đến ngay một thời điểm, là khuếch trương hiệu ứng tích hay tiêu cực cho 1 vấn đề gì đó lên nhiều lần.
 “Con tàu viễn dương tự đi vào trong bão vì những tay hoa tiêu khoa trương, một đoàn thuỷ thủ tồi, và những hành khách lần đầu ngồi khoang hạng nhất. Chỉ ai ngửi thấy mùi hơi ẩm trong gió lạnh, biết là sẽ phải đeo phao.”
Đây là nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, viện trưởng viện nghiên cứu kinh tế và chính sách , đại học Quốc Gia - Hà Nội. Anh Thành có bằng tiến sĩ của một trường ĐH Nhật Bản cấp, và là thành viên trẻ nhất trong tổ tư vấn chính sách của thủ tướng đương nhiệm. TS Thành đã nhiều lần khuyên ngân hàng nhà nước (NHNN) nên phá giá VND thường xuyên, mổi lần 1-1.5%, chừng 1 quý 1 lần, để khôi phục đúng giá trị VND và hỗ trợ xuất khẩu.
Nhận định này dc đưa ra sau khi bản tin này dc công bố:
Theo đánh giá của Trung tâm nghiên cứu BIDV, NHNN hoàn toàn có thể bán ra đến 5-6 tỷ USD, tương đương với mức thâm hụt cán cân thương mại trong kịch bản xấu. Vì vậy, nếu thị trường không xuất hiện đồng thời các cú sốc lớn thì nhiều khả năng NHNN sẽ hoàn thành mục tiêu điều hành tỷ giá trong năm nay – theo trung tâm nghiên cứu của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển (BIDV) vừa công bố báo cáo đánh giá diễn biến thị trường ngoại hối Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo nửa cuối năm 2015.
Theo đó, xét trên tổng thể, thị trường ngoại hối trong nước 6 tháng đầu năm vẫn được hỗ trợ theo chiều hướng ổn định bởi các yếu tố dài hạn bao gồm: định hướng điều hành nhất quán của NHNN; cán cân thanh toán tổng thể thặng dư – ước tính đạt khoảng 2-3 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm; lạm phát được duy trì ở mức thấp, CPI tháng 6/2015 chỉ tăng 0,6% so với cuối 2014.
Tuy nhiên, các yếu tố tác động trong ngắn hạn đã tạo ra sự khác biệt của thị trường. Cụ thể, thị trường ngoại hối 6 tháng đầu năm cũng diễn biến phức tạp, với các bước tăng/giảm khó dự báo và có nhiều điểm khác biệt so với giai đoạn 3 năm gần đây 2012-2014.
Thanh khoản được duy trì tốt, tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ không còn ở trạng thái dồi dào, vượt trội so với nhu cầu mà trở nên cân bằng hơn. Tỷ giá USD/VNĐ xác lập xu hướng tăng và dao động trong biên độ rộng 21350-21850. Tại thời điểm cuối tháng 6/2015, tỷ giá USD/VNĐ vào khoảng 21820 – tăng gần1,9% so với cuối năm 2014 – mức tăng mạnh nhất trong vòng 4 năm qua (năm 2012: giảm 1,9%, năm 2013: tăng 1,2%, năm 2014: tăng 1,7%).
Trong vòng chỉ mấy ngày cuối tháng 7, dồn dập các quan chức NN và ngành ngân hàng thông tin cho báo chí về khả năng ổn định tỉ giá, một hiện tượng hay xuất hiện khi căng thẳng tỉ giá tăng cao.
- Trích:
“Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia nhận định, nhìn một cách tổng thể, tỷ giá không có áp lực gì để tăng mạnh từ nay đến cuối năm, tiền đồng sẽ không mất giá quá 2% như cam kết của Ngân hàng Nhà nước.
Trước hiện tượng đồng bạc xanh đang mạnh lên từng ngày, thị trường lại dấy lên nhiều đồn đoán có những yếu tố gây áp lực giảm giá lên tiền đồng Việt Nam, khiến tỷ giá USD/VND có khả năng điều chỉnh tăng thêm đến 3%.
Bình luận vấn đề này, PV đã có cuộc trao đổi với ông Trương Văn Phước - Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
Ngân hàng Nhà nước liên tục đưa các thông điệp không điều chỉnh thêm tỷ giá từ nay đến cuối năm, song các tổ chức nghiên cứu khác đều nhận định trước nhiều sức ép lớn, tỷ giá có thể điều chỉnh lên tới 3%. Ông nhận định thế nào về khả năng này?
Ông Trương Văn Phước: Trước hết, câu chuyện tỷ giá USD/VND cần phải nhìn nhận về cung cầu. Tính đến giữa tháng 7/2015, nhập siêu của cả nước là 4 tỷ USD. Năm 2015, dự báo nhập siêu vào khoảng 5-7 tỷ USD.
Cán cân vãng lai của Việt Nam bao gồm cán cân thương mại, chuyển tiền và nguồn thu dịch vụ. Trong đó, kiều hối dự kiến đạt 12-14 tỷ USD. Chúng ta hoàn toàn có thể lấy kiều hối bù đắp thâm hụt nhập siêu. Do đó, tổng thể, cán cân vãng lai Việt Nam vẫn có thể thặng dư, ít nhất cũng khoảng 4-5 tỷ USD.
Thứ hai về cán cân vốn, về dòng chu chuyển vốn từ bên ngoài bao gồm đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, đầu tư mua trái phiếu, mua cổ phần trên thị trường chứng khoán; cộng với dòng vốn trực tiếp vẫn tiếp tục đổ vào và các khoản vay nợ như vay đầu tư phát triển ODA…do đó, cán cân vốn luôn luôn thặng dư.
Như vậy, cán cân vãng lai cộng với cán cân vốn tạo nên cán cân thanh toán của quốc gia. Năm nay, cán cân thanh toán dự kiến sẽ thặng dư khoảng 5-7 tỷ USD. Nói tóm lại, cung vẫn lớn hơn cầu.
Liệu có khả năng NHNN sẽ bán ra USD can thiệp thị trường nếu tỷ giá cuối năm có dấu hiệu căng thẳng?
Dự trữ ngoại hối cũng tăng lên mức rất cao. Thực tế NHNN cũng thỉnh thoảng can thiệp trên thị trường, nhưng nhìn chung áp lực mua ngoại tệ không nhiều đến mức NHNN phải can thiệp. Giả sử có cần phải can thiệp thì với nguồn dự trữ dồi dào NHNN vẫn kiểm soát được. Từ nay đến cuối năm, NHNN sẽ giữ đúng biên độ như đã cam kết.
Thị trường đang đồn đoán rất có thể trong tháng 9 tới, FED sẽ tiến hành tăng lãi suất. Điều này khiến một bộ phận người dân có xu hướng rút VND gửi ngân hàng USD. Theo ông, đây có phải là lựa chọn hay?
Hiện lãi suất đồng VND cao hơn lãi suất USD là 5%. Trong năm nay, xác suất FED tăng lãi suất là không nhiều mà khả năng trong năm sau nhiều hơn.
Họa hoằn nếu FED vẫn tăng lãi suất trong năm nay thì mức điều chỉnh cũng không lớn, khoảng từ 0,25-0,5%. Dù vậy, điều này cũng không làm cho chênh lệch lãi suất giữa đồng VND và USD hạ xuống thấp mà vẫn giữ ở mức 4,5-5%. Đây cũng là lý do vì sao nắm giữ tiền đồng vẫn có lợi hơn.
- Trích:
Thống đốc: Dự trữ ngoại hối đã đạt 37 tỷ USD, 10 tấn vàng
Điều này sẽ giúp cơ quan điều hành hoàn thành cam kết không điều chỉnh tỷ giá quá 2% trong năm nay.
Mới đây, trong một cuộc trao đổi với phóng viên TBKTSG, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến cuối tháng 7-2015 đã đạt 37 tỷ USD. Đây là số dự trữ bằng ngoại tệ, còn nếu tính cả các khoản khác như vàng, tiền gửi của Kho bạc, của các tổ chức tín dụng ở Ngân hàng Nhà nước (không phải bằng tiền đồng)... thì khoảng 40 tỷ USD. Thống đốc cũng cho biết thêm, hiện riêng vàng chúng ta có 10 tấn.
Theo đó, Thống đốc khẳng định sẽ giữ nguyên cam kết không điều chỉnh tỷ giá quá 2% trong năm nay. "Thứ nhất chúng ta có lực ngoại tệ để can thiệp khi cần và sẵn sàng can thiệp. Thứ hai chúng tôi điều hành tỷ giá trong một lộ trình dài có sử dụng đồng bộ các công cụ như lãi suất, cung tiền, tỷ giá, chứ không tách rời chúng”, Thống đốc cho biết.
- Thực tế: FED vừa có tín hiệu sẽ tăng lãi suất trong tháng 9
Phiên 29/7, USD tiếp tục tăng so với euro và yên sau khi Fed đánh tín hiệu sẽ tăng lãi suất trong những tháng tới, có thể vào tháng 9.
Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã đưa ra bức tranh tích cực về thị trường lao động trong kết luận phiên họp chính sách kéo dài 2 ngày. Ngân hàng trung ương cho biết, thị trường việc làm tiếp tục đà tăng vững chắc, nhấn mạnh vào mức độ sụt giảm của tỷ lệ thất nghiệp.
Sau tuyên bố phiên họp FOMC, USD tăng 0,7% so với euro lên 1,0982 USD/euro. Đồng thời USD cũng tăng 0,3% so với yên lên 123,9 yên/USD.
Tuy Fed không đưa ra tín hiệu cụ thể về thời điểm nâng lãi suất, nhưng thị trường cho rằng lãi suất sẽ tăng vào tháng 9 tới. Fed cho biết chỉ cần thêm số liệu cho thấy đà tăng trưởng của thị trường lao động để bắt đầu tăng lãi suất, lần đầu tiên trong hơn 9 năm qua.
Mặc dù lạm phát vẫn thấp hơn mục tiêu 2% của Fed và những diễn biến trên thị trường quốc tế, kể cả khủng hoảng nợ châu Âu và đà lao dốc của chứng khoán Trung Quốc trong thời gian qua làm phức tạp hơn thời điểm nâng lãi suất, nhưng hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng kỷ nguyên của lãi suất cận 0 đang đi đến hồi kết.
Vấn đề ko phải bán bao nhiêu USD để tái lập cung cầu hay dập tắt bất kì động thái đầu cơ USD nào – vấn đề là: 1. lòng tin vào VND, 2. giá VND so sánh tương đương với các đồng tiền khác, và 3. Tác động cộng hưởng khi ngân sách thất thu, nợ công tăng nhanh – vay vốn trên thị trường quốc tế bằng trái phiếu dollar (dollar–denominated sovereign bonds) sẽ có phân lời (yield) cao hơn – áp lực ngân sách trả nợ càng nặng nề hơn.
1. Giới đầu tư nước ngoài, trực (FDI) và gián tiếp (FII), rất nhạy cảm với biến động tỉ giá, do đó chỉ cần VND mất giá 1-2% thôi là đủ để ngưng dòng FDI hoặc dòng vốn FII bị rút ra đổ vào các thị trường khác. KT VN hiện nay sống nhờ FDI, nếu FDI rút thì cầu USD tăng vọt, một khi mốc 2% bị phá các mốc khác 3%-4% … sẽ nhanh bị phá hơn do hiệu ứng tâm lý. Chưa kể người gửi tiền = USD sẽ cấp tập rút tiền USD ra khỏi hệ thống NH về nhà à khống chế việc này chỉ có nước tăng lãi suất VN nhanh tương ứng.
2. Vì tỉ giá VND-USD dc NHNN neo chặt (pegged), nên một khi cầu USD tăng cao, thì buộc NHNN phải tung ra USD vào thị trường và hút một lượng tương xứng VND khỏi lưu thông, trong bức tranh lãi suất – giá của đồng vốn dưới dạng VND – đang chuẩn bị tăng, thì sẽ làm tăng giá VND, và khi giá USD so sánh tương đương với các đồng tiền khác cũng đang tăng à giá của hàng xuất khẩu so sánh tương đương với các đồng tiền khác sẽ tăng cao à khó cạnh tranh về giá khi xuất khẩu, xuất khẩu hàng thuần VN như nông nghiệp thủy sản đang giảm rất mạnh.
NHNN từ đầu năm đến giờ rất hạn chế tăng cung tiền, vì tăng cung tiền sẽ làm VND mất giá, ngay cả khi cố giữ lạm phát thấp, nên lãi suất luôn trong xu hướng tăng.
3. Quan trọng hơn hết là những chuyện này xảy ra khi tình trang thâm hụt ngân sách và nợ công đang rất căng thẳng, cộng hưởng với 2 yếu tố trên thì nếu chuyện này xảy ra thì cả nền KT sẽ đình trệ à tình hình tệ hơn cả gd 2008-2011.
Trích: “Giá dầu bình quân 6 tháng qua chỉ đạt 60 USD/thùng. Do đó, số thu từ dầu thô trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 35,9 nghìn tỷ đồng, bằng 38,6% so với dự toán. Để hoàn thành được nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) của năm nay, Bộ Tài chính đã liên tiếp đưa ra hàng loạt kiến nghị với Chính phủ, bộ ban ngành như: Cho phép tăng sản lượng khai thác dầu, vay dự trữ ngoại hối, vay/tạm ứng NHNN 30 nghìn tỷ … Câu hỏi đặt ra là phải chăng nhiệm vụ thu năm nay quá khó khăn? hay mục tiêu đặt ra của Bộ tài chính quá cao?”
Thu thuế tứ xăng dầu hụt đến hơn 60%, và giá dầu, cũng như giá hàng hóa cơ bản hay thương phẩm (commodities), nhứng thứ dc gọi là xuất thô – thế mạnh của VN - đều dc dự báo trên đà giảm (xem lại báo cáo quý 2)

è Kết luận: cần tránh bão hơn là xăm xăm đi tới: hạn chế vay hay đầu tư mở rộng thông qua vay ngân hàng, và cần chú ý đến cặp tỉ giá VND-USD.

Bức tranh KT VN – thế giới Q2/2015 – những đánh giá và nhận định chủ quan

1. Tình hình trong nước:
-- Các chỉ sô vĩ mô vẫn đang được cải thiện theo các báo cáo của các cơ quan chính phủ và các tỉnh thành và địa phương, bao gồm các chỉ số sản suất công nghiệp (industrial production index), hàng tồn kho ngành CN chế biến chế tạo, số lượng DN phá sản/thành lập mới.
Các tổ chức KT tài chính quốc tế đều nâng dự báo Kt trên 6% cho năm 2015, sau mức tăng 5.89% trong năm 2014, trong khi VN nâng dự báo KT lên khoảng 6.48%, cao hơn mức hoạch định đầu năm là 6.2% -> cơ hội tạo thêm việc làm mới cho nên KT sẽ tăng theo. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay, cùng với đà tăng dân số và thành phần dân số vẫn còn đang trẻ hơn so với các nước trong khu vực ASEAN, thì mỗi năm VN cần tạo thêm 800,000 - 1 triệu việc làm mới.
-- Tuy vậy báo cáo tình hình lao động và việc làm do Bộ Lao Động, Thương Binh và XH, tình hình tạo việc làm mới lại tiếp tục vẽ nên bức tranh đáng lo ngại là tỉ lệ thất nghiệp trong nhóm tốt nghiệp đại học và CĐ vẫn đang tiếp tục tăng dần.
Ngày 20/7, Viện Khoa học Lao động và Xã hội công bố bản tin cập nhật thị trường lao động quý I/2015. Bản tin ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm đều gia tăng.
Theo đó, trong 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114.000 người so với cùng kỳ năm 2014. Số lao động trình độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng từ hơn 162.000 lên gần 178.000 người; lao động tốt nghiệp cao đẳng thất nghiệp tăng từ 79.000 người lên hơn 100.000; lao động không có bằng cấp từ gần 630.000 lên 726.000.
-- Theo báo cáo của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch - đầu tư), Trong 6 tháng đầu năm 2015, số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước là 45.406 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 282.396 tỷ đồng, tăng 21,7% về số doanh nghiệp và tăng 22,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, “thanh lọc” vẫn cho thấy là một quy luật tốt của nền kinh tế thị trường khi những doanh nghiệp thực sự “khỏe mạnh”, có chất lượng tiếp tục thể hiện vai trò là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2015, có 10.988 lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 308.809 tỷ đồng. Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2015 là 591.205 tỷ đồng. 
Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm 2015 là 651.398 lao động, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước.
-> Có mâu thuẫn về số lượng DN, việc làm mới tạo và số liệu thất nghiệp.
-- VN đang tiếp tục trên lộ trình hội nhập sâu rộng: VN đã ký 9 thỏa thuận thương mại tự do. Các FTA này sẽ tác động mạnh đến số thu ngân sách khi tỉ lệ xóa bỏ thuế nhập khẩu dự kiến lên đến 90-100%. CÁ FTA này sẽ khiến nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu giàm đáng kể trong tương lai.
-- Ngân hàng Thế giới (WB) - nhà tài trợ đa phương lớn nhất hôm qua công bố về nợ công Việt Nam với số liệu bất ngờ. Tính đến cuối năm 2014, tổng nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương ước tính là 2,35 triệu tỷ đồng (khoảng 110 tỷ USD).  Nếu xét về tỷ lệ tương đối so với GDP (186,2 tỷ USD), thì nợ công theo tính toán của WB tương đương 59% - xấp xỉ số liệu được Bộ Tài chính đưa ra. Nhưng nếu xét riêng số tuyệt đối, nợ công theo tính toán của WB cao hơn bất kỳ số liệu nào được nêu ra trước đó.
Bản tin nợ công tháng 11/2014 của Bộ Tài chính cho biết cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ nước ngoài của doanh nghiệp tự vay tự trả không tính nợ chính quyền địa phương đạt hơn 1,5 triệu tỷ đồng, tăng so với mức gần 890.000 tỷ đồng cuối năm 2010.
-- Thứ trưởng Bộ Tài chính - Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết tiếp tục phát hành trái phiếu quốc tế để huy động vốn, đảo nợ cho cả giai đoạn 2016-2020. Con số không được công bố cụ thể tuy nhiên trước đó tại hội nghị tổng kết ngành năm 2014, Bộ trưởng Tài chính - Đinh Tiến Dũng cho biết sẽ phát hành thêm một tỷ USD trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế, kỳ hạn 10 năm, được sử dụng để tái cơ cấu nợ công.
Hồi đầu tháng 11/2014, Bộ Tài chính đã bán thành công trái phiếu Chính phủ với khối lượng và kỳ hạn tương đương, nhằm tái cơ cấu các khoản vay nước ngoài lãi suất cao.
-- Thêm vào đó nhập siêu trong quý 2 gần 4 tỉ USD so với 2,4 tỉ USD trong quý 1, và nhập siêu ngày càng lớn từ Trung Quốc.
Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2015, hàng hoá Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh và tiếp tục duy trì mức cao nhất với 24,4 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2014.
Đáng chú ý, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng cho Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu đạt trị giá là 3,72 tỷ USD, chiếm 18,71% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ Trung Quốc, tăng 26,8% so với cùng kỳ.
Đối với nhóm nguyên vật liệu dệt may, da, giày, trị giá nhập khẩu từ Trung Quốc trong 5 tháng là 718,97 triệu USD USD, tăng 16,67% so cùng kỳ. Nhóm hàng vải may mặc nhập từ Trung Quốc trị giá 2,06 tỷ USD, chiếm 10,37%, tăng11,32%
Con số nhập quý 1 từ TQ là với 11,47 tỉ USD.
-- Xuất khẩu hàng hóa của khối các doanh nghiệp trong nước giảm mạnh trong 6 tháng/2015 trong khi khối các doanh nghiệp FDI đạt mức tăng trên 20%.
Trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của khối các doanh nghiệp trong nước là 25,23 tỷ USD, giảm 8,4%. Xét về số tuyệt đối, trị giá xuất khẩu của khối này giảm 2,31 tỷ USD, trong đó giảm mạnh nhất ở dầu thô (giảm 1,85 tỷ USD do đơn giá giảm 47,7% trong khi lượng tăng nhẹ 2,7%), cà phê (giảm 586 triệu USD) và thủy hải sản (giảm 493 triệu USD).
Trị giá xuất khẩu của khối các doanh nghiệp FDI trong 6 tháng/2015 là 52,54 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước, tương đương tăng 8,92 tỷ USD về số tuyệt đối. Trong đó, tăng mạnh ở hàng điện thoại các loại và linh kiện (tăng 3,06 tỷ USD); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (tăng 2,73 tỷ USD)…
-- Dòng tiền tiếp tục dc nắn vào các lĩnh vực rủi ro, gây bong bóng tài sản như Bất động sản, chứng khoán.
Về tín dụng ngân hàng, báo cáo của Bộ Xây Dựng cho hay tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tiếp tục tăng trưởng, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống.
Cụ thể, dư nợ tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tính đến 31/03/2015 đạt 333.701 tỷ đồng, tăng 10,5% so với thời điểm 31/12/2014 và tăng 2% so với thời điểm 28/2/2015. Tỷ lệ nợ xấu cuối tháng 3/2015 là 5,61%.
Trong khi đó, mới đây nhất ngày 23/6 trong cuộc họp báo của Ngân hàng nhà nước, Phó Thống đôc Nguyễn Thị Hồng cho hay,tính đến 25/6, tín dụng bất động sản tăng 10,89%, chiếm tỷ trọng 8,3% tổng dư nợ, tăng nhẹ so với mức 7,9% của cùng kỳ năm ngoái.
-- Dòng tiền dc nắn vào các lĩnh vực rủi ro, tạo hiệu ứng crowding-out, nôm na là chèn ép (vì nó hút hết tiền của những lĩnh vực khác), khiến các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất huy động và do đó lãi suất cho vay có thể sẽ tăng. Điều này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn vay vốn để mở rộng đầu tư, và ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô.
-- Các sự kiện ồn ào về nợ xấu, giấu nợ, bắt bớ các quan chức của giới ngân hàng đang cho thấy bức tranh nợ xấu vẫn chưa rõ ràng. Điển hình là gia tăng sáp nhập ngân hàng nhằm làm đẹp hơn bảng cân đối số thu chi của các nhà băng.
Một ví dụ nhỏ: Kiểm toán Nhà nước phát hiện nợ xấu của SouthernBank lên tới 55,31%. Nợ xấu Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam (SouthernBank - PNB) tháng 11/2013 là 55,31% nhưng SouthernBank chỉ báo cáo tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2013 là 3,39%, báo cáo kiểm toán cho biết.
Nợ xấu vốn dc thế chấp bằng BĐS, và với lượng vốn khổng lồ vẫn còn đang nằm trong các dự án BĐS đang trùm mền, và lượng tiền mới vẫn dc dồn cho BĐS nhằm tăng số thu, và do ko cho vay dc các lĩnh vực khác à Một bong bong mới sẽ sớm thành hình.
-- Tại cuộc đối thoại với các doanh nghiệp về chính sách lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội do Phòng Thương mại - Công nghiệp VN (VCCI) phối hợp với Bộ LĐ-TB-XH tổ chức đầu tháng 7, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, cho biết: “VCCI đang lấy ý kiến của các hiệp hội về phương án tăng lương tối thiểu năm 2016, để đưa ra thương lượng tại Hội đồng tiền lương quốc gia, mức tăng dự kiến chỉ hơn 10%”.

Với mức dự báo là 10% này, ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, Chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia, cũng cho biết: cuối tháng này, Hội đồng tiền lương quốc gia sẽ họp và tháng 10 sẽ trình Chính phủ về mức tăng lương tối thiểu năm 2016.
Hệ quả từ các dữ liệu trên:
1. (Giữ nguyên nhận định từ báo cáo quý 1) DN trong nước sẽ chết dần mòn vì theo cân đối chi phí hoạt động, thuế cũng như các khoản chi không tên khác, hàng VN sẽ KHÔNG THỂ CẠNH TRANH VỀ GIÁ VÀ CHẤT LƯỢNG SO VỚI HÀNG CÙNG CHỦNG LOẠI VÀ CÙNG PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG -> DN thay vì sản xuất sẽ chuyện sang nhập khẩu và phân phối, trong chuỗi cung ứng VN sẽ thiếu vắng dần khâu sản xuất (trừ một vài DN lớn đã hoạt động lâu năm như bút bi Thiên Long, giày dép BITIS, dệt Thái Tuấn)
2. (Giữ nguyên nhận định từ báo cáo quý 1)Với một ngân sách luôn thâm hụt, trước là hụt về thuế thu từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, do giá dầu thô thế giới giảm, và bán xăng dầu do theo lộ trình hội nhập nhiều sắc thuế đối với xăng dầu từ ASEAN sẽ giảm, nay thêm thuế nhập khẩu phải giảm theo lộ trình hội nhập -> ngân sách càng thâm hụt.
Để tài trợ thâm hụt: vay nợ - ngân hàng đang nắm rất nhiều trái phiếu chính phủ + các khoản nợ công vay nước ngoài cũng tăng.
3. (Giữ nguyên nhận định từ báo cáo quý 1) VND sẽ càng dễ mất giá, và trong xu hướng mất giá mạnh so với USD cũng như các đồng tiền chủ chốt, nhưng một khi Ngân hàng NN cam kết ko phá quá biên độ 2% thì rủi ro mất giá mạnh trong tương lai gần càng tăng. Cố gắng không phá giá VND quá nhanh mạnh dẫn đến hệ quả gì: nhập siêu càng tăng mạnh, và hàng VN không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới à Nếu phá giá tiếp sẽ phá nhanh mạnh hơn mức 2%.
2.Tình hình ngành dệt may
Hiện tại, nhiều cty nước ngoài chuyên về dệt nhuộm đã đang đầu tư mạnh vào VN nhằm tận dụng TPP và các FTA sắp tới khi hầu hết dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vốn lớn được cấp phép từ đầu năm đến nay tập trung trong lĩnh vực dệt may.
-- Cuối tháng 6, tỉnh Bình Dương đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án của Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Đài Loan) có vốn đầu tư đăng ký 274 triệu USD. Dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may này có quy mô diện tích 99 ha tại Khu công nghiệp Bàu Bàng, với công suất sản xuất hàng năm là 43.200 tấn sợi tổng hợp polyster, 127 triệu m2 vải dệt kim và nhuộm, 96 triệu m2 sản phẩm kéo sợi cotton.
-- Hồi đầu tháng 6, tại Đồng Nai, dự án của Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai, với tổng vốn đầu tư đăng ký 660 triệu USD, hoạt động trong lĩnh vực dệt may, được cấp phép. Tập đoàn Hyosung (Hàn Quốc) hiện có dự án đầu tư lớn nhất tại Đồng Nai, với tổng vốn đăng ký là 995 triệu USD, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dệt may. Trong mấy năm gần đây, để đón đầu Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tập đoàn này đã liên tục tăng vốn cho dự án tại Khu công nghiệp Nhơn Trạch 5 và nhiều khả năng còn tiếp tục mở rộng đầu tư trong thời gian tới.
-- Tại TP.HCM, đầu năm nay, Công ty TNHH Worldon Việt Nam (Hồng Kông) đã hoàn thành việc tăng vốn để đưa tổng mức đầu tư cho dự án tại Khu công nghiệp Đông Nam lên 300 triệu USD. Mục tiêu của dự án này là xây dựng trung tâm thiết kế thời trang và sản xuất các sản phẩm dệt kim cao cấp từ công đoạn sợi, dệt vải, in hoa… đến sản phẩm ở khâu cuối cùng.
Như vậy, có thể thấy, các dự án có vốn đầu tư lớn nhất tại các địa phương nói trên được cấp phép từ đầu
Theo các chuyên gia, đây chính là cơ sở để tin rằng, trong thời gian tới, các dự án FDI trong lĩnh vực dệt may sẽ tiếp tục đổ vào Việt Nam. Lý do là, khi TPP được ký kết, Việt Nam có lợi thế ở góc độ xuất khẩu hàng ra thế giới do quy định xuất xứ 'từ sợi' (yarn forward) của TPP buộc doanh nghiệp dệt may xuất khẩu đang hoạt động tại Việt Nam phải sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước thành viên TPP khác (trong đó không có Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…).
Một nguồn tin của Báo Đầu tư Online - Baodautu.vn cho biết, thời gian tới, Bình Dương sẽ có thêm một dự án có quy vốn lên đến 320 triệu USD trong lĩnh vực dệt may. Đó là dự án của Công ty Viễn Đông Tân Thế Kỷ (Đài Loan). Trong giai đoạn đầu, dự án này sẽ thực hiện đầy đủ các khâu sản xuất từ sợi, nhuộm cho đến may mặc.
Có thể nhận thấy, không chỉ Bình Dương, mà nhiều địa phương khác sẽ tiếp tục đón dòng vốn FDI trong lĩnh vực dệt may, trong đó sẽ có nhiều dự án có quy mô vốn lớn.
-- Ấn Độ cũng ko đứng ngoài cuộc: Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết, Chính phủ Ấn Độ đã chính thức khởi động gói tín dụng ưu đãi 300 triệu USD để xúc tiến hợp tác trong lĩnh vực dệt may giữa Việt Nam - Ấn Độ.
Theo đó, Ấn Độ sẽ hỗ trợ các dự án đầu tư vào dệt may có sử dụng thiết bị, dịch vụ của Ấn Độ lên tới 75% giá trị dự án. Thời gian cho vay là 10 năm với lãi suất 2% một năm. Toàn bộ giao dịch cho vay được thực hiện thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) với sự bảo lãnh của Bộ Tài chính Việt Nam.
Theo Vitas, gói tín dụng sẽ giúp các doanh nghiệp Ấn Độ phát triển các nhà máy tại Việt Nam, đồng thời, thúc đẩy các công ty nội có liên quan mở rộng hợp tác với các đối tác Ấn Độ. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp có được lợi thế hơn sau khi gia nhập hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP).
3. Tình hình thế giới
3.1 Rủi ro lớn nhất là thế giới đang đi vào một CHU KỲ GIẢM PHÁT MỚI sau thời gian khủng hoảng kéo dài từ 2008-2009 tới nay, mới có dấu hiệu phục hồi tại thị trường Mỹ, với chỉ dấu là sự sụt giảm giá dầu, vàng và đồng à kéo theo sự sụt giảm của tất cả các loại hàng hóa khác, trong khi chi phí cho sản xuất trong nước lại tăng à chú ý đến việc có cần mở rộng sản xuất hay ko, và nếu có thì cho thị trường nào: giờ chỉ còn thị trường Bắc Mỹ và Bắc Âu, và Đức, là xem ra có thể đứng vững trước chu kỳ giảm phát này
-- Chỉ số Bloomberg Commodities Index vẫn tiếp tục trượt dốc sau khi chạm đáy thấp nhất 13 năm trong phiên hôm qua, thấp hơn cả mức đáy của thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 hay khủng hoảng nợ công ở eurozone năm 2012.
Chỉ số CRB giao ngay của ngành công nghiệp hàng hóa nguyên liệu hiện đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 11/2009. Chỉ số Bloomberg Commodities đã chạm những mức chưa từng thấy kể từ tháng 6/2002.
Chỉ trong tuần này, giá dầu thô đã giảm xuống còn 50 USD/thùng, trong khi giá vàng giảm xuống dưới 1.100 USD/ounce – mức thấp nhất trong 5 năm qua.
Và cổ phiếu của các công ty khai thác mỏ như Newmont Mining (NEM), Barrick Gold (ABX) và Coeur Mining (CDE) giảm 20-25% chỉ trong tháng này.
-- Cuộc bán tháo các hàng hóa nguyên liệu như đồng, nhôm, vàng và dầu đã làm dấy lên mối lo ngại về sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu.
“Đó là một dấu hiệu cho nền kinh tế toàn cầu. Tôi không nghĩ đó là lời cảnh báo về thảm họa mà chúng ta phải đương đầu, nhưng tôi nghĩ rằng nó muốn nói cho chúng ta điều gì đó”, David Kelly, giám đốc chiến lược toàn cầu của JPMorgan Funds cho biết.
Tại sao giá của những hàng hóa này lại sụt giảm? Trước tiên, đơn giản là không đủ lượng cầu.
Tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức khiêm tốn đã làm ảnh hưởng đến lượng cầu của một số kim loại công nghiệp được theo dõi chặt chẽ nhất như đồng và quặng sắt, cũng như dầu.
Đang ở đà tăng trưởng nhanh hơn so với nhiều quốc gia, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc bỗng chậm lại đáng kể trong những năm gần đây. Đó là một yếu tố quan trọng, bởi nhu cầu vô độ trước đó của Trung Quốc đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên đã khiến Trung Quốc được mệnh danh là “người tiêu dùng sôi nổi” nhất thế giới.
Sự chậm lại của Trung Quốc đang đóng vai trò rất lớn trong bức tranh về nhu cầu. Tăng trưởng trong nửa đầu năm 2015 chậm lại đến mức thấp nhất kể từ năm 2009 - và có nhiều bất đồng ngày càng tăng trong các nhà đầu tư rằng Bắc Kinh có thể đưa ra các con số không rõ ràng.
Nhiều thị trường mới nổi khác như Brazil và Nga cũng đang phát triển với một tốc độ chậm chạp. Tương tự như vậy đối với các nền kinh tế đã phát triển như châu Âu và, ở một mức độ thấp hơn, Mỹ.
-- Quỹ Tiền tệ Quốc tế gần đây đã hạ mức dự báo tăng trưởng toàn cầu ở mức 3,3% - tốc độ thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính.
Trong khi đó, lượng cung trên thị trường lại đang dư thừa. Sự bùng nổ hàng hóa, thúc đẩy bởi sự tăng trưởng bùng nổ của Trung Quốc trong những năm trước đây, khiến các công ty năng lượng và kim loại gia tăng sản xuất đến mức mà thị trường hiện nay không thể hỗ trợ. Hãy nhìn vào cách mà những công ty sản xuất dầu Bắc Mỹ khai thác quá nhiều dầu và kết quả bây giờ là lượng cung dư thừa khổng lồ.
-- Do nền kinh tế Mỹ có vẻ tốt hơn so với các nước khác và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã ngừng chương trình kích thích kinh tế, đồng đô la Mỹ đã chạy trước các đối thủ như đồng euro và đồng yên.
Đó là tin xấu đối với hàng hóa, bởi vì hầu hết hàng hóa được định giá bằng đô la Mỹ. Đồng đô la Mỹ mạnh sẽ gây sức ép lên nhu cầu, bởi lúc này, dầu và tài nguyên thiên nhiên khác đắt tiền hơn so với định giá bằng các đồng tiền khác.
Sự sụt giảm của cổ phiếu các công ty khai thác: Không có gì ngạc nhiên khi chỉ số S&P500 của lĩnh vực năng lượng và nguyên liệu đã giảm lần lượt 10% và 3% trong năm nay. Cổ phiếu của các công ty khai thác mỏ như Newmont Mining, Barrick Gold và Coeur Mining cũng đã giảm 20- 25% trong tháng này.
Janet Yellen sẽ trì hoãn việc tăng lãi suất? Cho đến khi điều đó xảy ra, cuộc bán tháo hàng hóa có thể làm cho công việc của Janet Yellen trở nên khó khăn hơn. Người đứng đầu Fed đã báo hiệu một mức lãi suất vào cuối năm nay, nhưng giá hàng hóa thấp hơn sẽ khiến lạm phát hơn nữa đằng sau các mục tiêu của ngân hàng trung ương.
3.2 Rủi ro về địa chính trị khu vực, chủ yếu do tình hình nội an do cuộc chiến phe phái khiến Trung Quốc có thể đẩy ra ngoài thành những cuộc chạm trán nhỏ với các nước cùng chia sẻ biển Đông.
Một cuộc hải chiến, dù quy mô nhỏ, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến KT, vì Biển Đông giờ chiếm gần 40% các luồng tàu vận chuyển hàng hóa nguyên phụ liệu xuyên lục địa.
Hiện khả năng này thấp, do hai nước đứng đầu có thể kiềm chế hoặc khuếc trương vấn đề này là Mỹ và TQ vẫn đang mở rộng các kênh đối thoại ngoại giao nhằm có thể thông tin trực tiếp với nhau.



Bức tranh KT VN – thế giới trong 4 tháng đầu năm 2015 – những đánh giá và nhận định chủ quan

1.1 Tình hình trong nước:
-- Các chỉ sô vĩ mô vẫn đang trong “trạng thái tốt dần lên” theo các báo cáo của các cơ quan chính phủ và các tỉnh thành và địa phương, bao gồm các chỉ số sản suất công nghiệp (industrial production index), hàng tồn kho ngành CN chế biến chế tạo, số lượng DN phá sản/thành lập mới.
Các tổ chức KT tài chính quốc tế như World Bank, HSBC hay ANZ đã có những cập nhật dự báo tăng trưởng kinh tế cho VN, theo đó đều nâng dự báo Kt trên 6% cho năm 2015, sau mức tăng 5.89% trong năm 2014 -> cơ hội tạo thêm việc làm mới cho nên KT sẽ tăng theo – theo đà tăng dân số và thành phần dân số vẫn còn đang trẻ, vừa chớm bắt đầu bước vào giai đoạn già của VN – thì mỗi năm VN cần tạo thêm 1 triệu việc làm mới.
Tuy báo cáo tình hình lao động và việc làm do Bộ Lao Động, Thương Binh và XH, tình hình tạo việc làm mới có cải thiện trong năm 2014 và đầu 2015, nhưng 1 điểm rất đáng lưu ý là tỉ lệ thất nghiệp trong nhóm tốt nghiệp đại học và CĐ vẫn đang tăng dần.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong quý I/2015, tỷ lệ thất nghiệp của lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 24,2%, tức là cứ 4 người thất nghiệp thì có một trường hợp giữ bằng cao đẳng, đại học.
Hồi tháng 7 năm ngoái, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng cho biết nhóm có trình độ đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao thứ hai sau lao động không có trình độ chuyên môn) với khoảng trên 162.000 người, gấp gần 2 lần so với tỷ lệ thất nghiệp cả nước tại thời điểm đó.”
Một số nhận định chủ quan:
Tuy nhiên nhìn vào 1 số thành tố của nền KT sẽ thấy 1 vài điểm rất đáng quan ngại.
-- Theo báo cáo của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch - đầu tư), trong hai tháng qua cả nước có 13.766 doanh nghiệp thành lập mới, song có trên 16.000 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể và tạm dừng hoạt động. Trong đó, riêng số doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, nếu tính chung hai tháng, mỗi ngày VN có trên 266 doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động.
Theo báo cáo của tổng cụ thống kê, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh trong quý I/2015 của cả nước là 2.565 doanh nghiệp, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, hầu hết các doanh nghiệp phá sản đều có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải ngừng hoạt động là 16.175 doanh nghiệp, tăng 14,2% so với quý I/2014, gồm 5.548 doanh nghiệp đăng kỹ ngừng hoạt động có thời hạn; 10.627 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.
Điều đáng lo đối với bất kì nên KT nào, chính là số lượng DN nhỏ và vừa (DNVVN) sụp đổ, vì bao giờ cũng chiếm trên 90% tổng số DN, cá biệt có thể lên tới 97-98% (như VN là 97%) vì DNVVN vừa tạo việc làm, vừa tạo đầu vào cho các DN lớn hơn tạo thành sự liền lạc trong huyết mạnh chuỗi cung ứng.
-- VN đang trên lộ trình hội nhập sâu rộng: Ông Trần Quốc Khánh, thứ trưởng Bộ Công thương, cho biết tính đến nay, VN đã ký 8 thỏa thuận thương mại tự do. Chúng ta đang tích cực 7 thỏa thuận thương mại tự do nữa, trong đó TPP và FTA với liên minh thuế quan Nga, Belarus và Kazakhstan.
Các FTA này sẽ tác động mạnh đến số thu ngân sách khi tỉ lệ xóa bỏ thuế nhập khẩu dự kiến lên đến 90-100%.
Theo thứ trưởng Khánh, thì tỉ trọng thu từ thuế xuất nhập khẩu so với tổng thu ngân sách còn khá lớn. Dự kiến năm nay số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đã giảm mạnh nhưng vẫn chiếm 9,2% trong tổng thu ngân sách. Trong khi đó tỉ trọng này của năm 2014 và 2009 đạt 9,9% và 16,9%. Theo cam kết hiệp định thương mại tự do, đến năm 2018, hầu hết mặt hàng nhập khẩu, thuế về mức 0%, tổng thu ngân sách từ nhập khẩu sẽ giảm nhiều.
Hai điều trên sẽ dần đến hệ quả gì:
1.  DN trong nước sẽ chết dần mòn vì theo cân đối chi phí hoạt động, thuế cũng như các khoản chi không tên khác, hàng VN sẽ KHÔNG THỂ CẠNH TRANH VỀ GIÁ VÀ CHẤT LƯỢNG SO VỚI HÀNG CÙNG CHỦNG LOẠI VÀ CÙNG PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG -> DN thay vì sản xuất sẽ chuyện sang nhập khẩu và phân phối, trong chuỗi cung ứng VN sẽ thiếu vắng dần khâu sản xuất (trừ một vài DN lớn đã hoạt động lâu năm như bút bi Thiên Long, giày dép BITIS, dệt Thái Tuấn)
Thêm minh chứng: Cán cân thương mại vẫn theo xu hướng thặng dư ở khối các doanh nghiệp FDI và thâm hụt ở khối các doanh nghiệp trong nước. Trong mức nhập siêu 2,4 tỷ USD quý I/2015 thì khối doanh nghiệp FDI xuất siêu 873 triệu USD còn khối doanh nghiệp trong nước nhập siêu tới 3,27 tỷ USD.
Báo giới nhận định:
Với thuế suất còn 0%, nhiều mặt hàng bánh kẹo từ các nước trong khu vực ASEAN như Indonesia, Thái Lan... đã đổ về các chợ, tiệm tạp hóa ở TP.HCM.      
Bánh kẹo các nước ASEAN đã bắt đầu xuất hiện nhiều tại hệ thống bán lẻ TP.HCM từ vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy bánh kẹo Thái Lan, Indonesia hay Malaysia phủ sóng từ chợ, siêu thị đến các cửa hàng tạp hóa với mật độ dày đặc.
Thêm vào đó: Ông Nguyễn Thanh Sơn - giám đốc Công ty T&A Ogilvy - cho biết trong vòng hai tháng gần đây đã tiếp đón sáu tập đoàn lớn (thuộc các lĩnh vực bất động sản, hàng tiêu dùng, bán lẻ, thực phẩm...) của Thái Lan đến đề nghị hỗ trợ xây dựng, phát triển chiến lược tại thị trường VN, chuẩn bị cho việc tiếp cận người tiêu dùng địa phương.
Theo ông Sơn, các doanh nghiệp này đều cho biết đây là thời điểm thích hợp để vào thị trường VN, do VN đang ở giai đoạn hội nhập sâu, thị trường rộng mở. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp VN vẫn chưa đánh giá hết giá trị hình ảnh với người tiêu dùng.
Nếu nhìn vào các yếu tố cạnh tranh, doanh nghiệp VN gần như thua trắng từ tài chính, quản trị đến kỹ thuật, kinh nghiệm...
“Các doanh nghiệp VN vẫn tự tin vào lợi thế am hiểu người tiêu dùng địa phương, trong khi thực tế rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài chi hàng triệu USD để khảo sát, nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng VN. Bản thân thương hiệu VN cũng chưa đủ uy tín để cạnh tranh sòng phẳng” - ông Sơn nói.
Cứu cánh là đây? ông Bùi Huy Sơn - cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại - cho biết đang triển khai nhiều hoạt động để hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp, trong đó chú trọng kết nối với các tham tán thương mại VN ở nước ngoài, tăng xuất khẩu hàng VN.
2. Với một ngân sách luôn thâm hụt, trước là hụt về thuế thu từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, do giá dầu thô thế giới giảm, và bán xăng dầu do theo lộ trình hội nhập nhiều sắc thuế đối với xăng dầu từ ASEAN sẽ giảm, nay thêm thuế nhập khẩu phải giảm theo lộ trình hội nhập -> ngân sách càng thâm hụt.
Để tài trợ thâm hụt: vay nợ - ngân hàng đang nắm rất nhiều trái phiếu chính phủ + các khoản nợ công vay nước ngoài cũng tăng.
“Rủi ro trong việc trả nợ công cũng được vị chuyên gia này cảnh báo: “Nợ trong nước có tỉ trọng tăng nhanh, hiện chiếm tới hơn 50% nhưng chủ yếu dưới hình thức trái phiếu Chính phủ mà ngân hàng thương mại mua.
Mặc dù đã có những điều chỉnh nhằm tăng lượng trái phiếu Chính phủ dài hạn trong tương lai, song ở thời điểm hiện tại các khoản nợ này chủ yếu vẫn là lãi suất khá cao (8-10%) và ngắn hạn (2-5 năm). Với rủi ro lãi suất cao và kỳ hạn ngắn, nghĩa vụ trả nợ trong nước sẽ vô cùng nặng nề, áp lực tăng cung tiền trả nợ dẫn đến lạm phát”. - PGS.TS Trần Đình Thiên, Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2015.
-> VND sẽ càng dễ mất giá, và trong xu hướng mất giá mạnh so với USD cũng như các đồng tiền chủ chốt, nhưng một khi Ngân hàng NN ko phá quá biên độ 2% thì rủi ro mất giá mạnh trong tương lai gần càng tăng.
Theo tính toán của một số tổ chức độc lập thì VND cần dc phá giá 15-20% trong vòng 2-3 năm tới để trả lại giá trị thực cho VND và cứu cánh xuất khẩu. Tuy nhiên quyết định cuối cùng nằm trong tay Ngân hàng NN.
Cố gắng không phá giá VND quá nhanh mạnh dẫn đến hệ quả gì: nhập siêu, và hàng VN không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Minh chứng: Ngày 16-4, Tổng cục Hải quan công bố số liệu tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 36,3 tỉ USD, còn tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 38,7 tỉ USD. Như vậy, cán cân thương mại đang âm, hay nói cách khác chúng ta nhập siêu trong quý 1 gần 2,4 tỉ USD.
Thêm vào đó nhập siêu ngày càng lớn từ Trung Quốc: Điểm đáng chú ý nữa là Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong quý I/2015 với 11,47 tỉ USD, trong khi ở chiều xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ xuất khẩu được 3,54 tỉ USD, đưa mức nhập siêu lên đến 8 tỉ USD. Bộ Công Thương dự báo, năm 2015, Việt Nam có thể quay lại nhập siêu khoảng 6-8 tỷ USD.
-- Một điểm đáng lưu ý là lãi suất qua đêm tuần rồi tăng đột biến, lần tăng đầu tiên từ đầu 2015, báo hiệu có một sư khan hiếm VND khá lớn giữa các NH, điều này có hàm ý nhằm có thể kiểm soát lạm phát khi tăng giá điện xăng dầu và hạn chế VND mất giá so với US dollar, tỉ giá dollar lien NH đã giảm nhẹ. Tuy nhiên theo quy luật thị trường, khả năng tiếp tục mất giá của VND là lớn, động thái gấp gáp của Ngân hàng NN chứng tỏ điều đó à khuyến nghị giữ dollar thay vì VND trogn ngân hàng phòng trường hợp VND bị phá giá bất ngờ.
-- Một chính sách cũng đáng quan tâm về bảo hiểm XH
Quy định lộ trình tăng dần thời gian đóng bảo hiểm xã hội để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75%, tiến tới người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 30 năm đối với nữ và 35 năm đối với nam thì đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75%.
Sửa đổi quy định giảm trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi quy định từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định.
Về tuổi nghỉ hưu đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường, vẫn giữ như quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Bộ luật Lao động năm 2012, cụ thể 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ.
Riêng đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ.
-- Dòng tiền đang dc hướng vào thị trường BĐS, minh chứng là tỉ lệ tiêu thu thép xây dựng tăng rất nhanh và làm các nhà cung cấp giảm chiết khấu cho đại lý khi cầu tăng nhanh, và các bản tin dồn dập về sự khởi sắc của thị trường BĐS xuất hiện nhan nhản trên truyền thông, cùng lúc với quá trình sáp nhập NH nhằm giảm bớt nợ xấu, chủ yếu nằm trong BĐS ko bán dc mấy năm qua.
2.2 Tình hình ngành dệt may
Một số DN trong ngành vừa lên tiếng thiếu đơn hàng kể từ quý 2 năm nay, do 4 nguyên nhân chính (sẽ tùy vào loại hình DN – đây có thể là 1 DN chuyên gia công)
-- Thứ nhất, do nguồn nguyên phụ liệu phụ thuộc vào Trung Quốc, trong khi Tết năm nay nghỉ dài ở cả Việt Nam và Trung Quốc nên đến cuối tháng 2, đầu tháng 3 công nhân phía Trung Quốc mới đi làm. Do đó, hàng về đến Việt Nam phải đợi đến cuối tháng 3, thậm chí giữa tháng 4.
-- Nguyên nhân thứ hai là do tỷ giá Euro và USD có nhiều biến động khiến khách hàng nước ngoài e ngại, chưa dám ký thêm nhiều hợp đồng.
-- Nguyên nhân thứ ba là mùa đông năm nay tại châu Âu không dài, hàng may mặc XK lại chủ yếu là hàng mùa đông nên lượng tồn kho còn nhiều, nhu cầu của khách hàng cũng vì thế mà chững lại.
-- Nguyên nhân cuối cùng mới đáng lo ngại, “do Việt Nam chuẩn bị tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và ký kết một loạt Hiệp định thương mại tự do (FTA) nên DN nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam mở nhà máy, vì thế, khách hàng chuyển sang sử dụng trực tiếp nhà máy của mình chứ không thuê lại các DN trong nước nữa, chưa kể đến, tiềm lực của DN FDI rất lớn, quy mô nhà máy rộng, đông đảo công nhân nên hút mất một lượng lớn đơn hàng của DN Việt Nam”.
Tuy nhiên nhìn vào DN ở tầm mức cao hơn, ta sẽ có 1 bức tranh khác:
Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện được mô hình chuỗi khép kín để tận dụng được ưu thế của TPP như Vinatex, đặc biệt với các doanh nghiệp tư nhân trong cùng lĩnh vực.
“Chúng tôi chẳng thể đầu tư một cụm sản xuất khép kín như Vinatex khi vốn không có, kinh nghiệm quản lý, sản xuất dệt - nhuộm cũng không. Cho nên, dù cơ hội có vẻ chia đều cho mọi doanh nghiệp, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể nắm bắt được khi xuất phát điểm ban đầu quá cách biệt. Phải biết người, biết ta” theo ông Lê Quang Hùng, chủ tịch HĐQT Công ty CP Garmex Sài Gòn.
Tuy nhiên, ông Hùng cho rằng những doanh nghiệp tư nhân vẫn còn có rất nhiều cách để tăng hàm lượng giá trị gia tăng trên nhiều công đoạn khác trong chuỗi sản xuất khép kín nói trên “nếu biết dựa vào năng lực lõi của chính mình”.
Chẳng hạn, với việc lập chi nhánh tại Mỹ để nhận khách đặt hàng trực tiếp thay vì vẫn thông qua trung gian như hiện nay, Garmex đã bắt đầu có lãi khoảng 2 triệu USD trong năm 2014, và dự kiến sẽ tăng lên 4 triệu USD trong năm 2015.
Ngoài ra, Garmex cũng đang triển khai kế hoạch nhận nhượng quyền thương hiệu của một thương hiệu may mặc của Mỹ để tận dụng kênh phân phối, bán hàng vào hệ thống siêu thị Mỹ, kinh doanh online và cả đội ngũ thiết kế của thương hiệu này cho chiến lược phát triển ODM (thiết kế, sản xuất, bán sản phẩm) mà Garmex đang ấp ủ bấy lâu nay.
“Tôi rất kỳ vọng vào kế hoạch phát triển này vì nó phù hợp với quy mô và năng lực sản xuất của chúng tôi” - ông Hùng đúc kết.

Hiện tại, nhiều cty nước ngoài chuyên về dệt nhuộm đã đang đầu tư mạnh vào VN nhằm tận dụng TPP sắp tới, đặc biệt là VINATEX đang liên kết nhiều cty ngoại chuyên lĩnh vực này:
 Khi Công ty CP Vinatex Quốc tế (VTJ) - thành viên Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex) - và Công ty TOMS (Nhật) ký hợp đồng liên doanh thực hiện dự án cụm liên hợp dệt, nhuộm, may tại Hải Lăng (Quảng Trị) trị giá 12 triệu USD để sản xuất mặt hàng T-shirt, mô hình chuỗi cung ứng sản phẩm khép kín từ khâu sản xuất đến khâu thành phẩm của Vinatex đã được hình thành như chiến lược của tập đoàn đề ra sau khi tiến hành cổ phần hóa.
Để có được nguyên liệu sợi cho khâu dệt trong cụm liên hợp, liên doanh VTJ - TOMS sẽ sử dụng nguyên liệu sợi của Công ty 8-3, cũng là một thành viên khác của Vinatex, và hoàn toàn đáp ứng được nguyên tắc “từ sợi trở đi” nhằm tận dụng hiệu quả tối đa từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mang lại, trong đó TOMS sẽ giữ vai trò phân phối ra thị trường quốc tế sản phẩm T-shirt được sản xuất hoàn chỉnh tại VN.
Theo tổng giám đốc Vinatex Lê Tiến Trường, việc Vinatex đầu tư mạnh mẽ cho khâu sản xuất nguyên phụ liệu, với tổng vốn đầu tư lên đến hàng ngàn tỉ đồng giai đoạn 2014-2016, nhằm mục đích nâng cao năng lực cung ứng và tăng sự chủ động cho tập đoàn để tăng sự cạnh tranh.
Chẳng hạn với ngành vải, sau khi hoàn thành các dự án đang triển khai, năng lực sản xuất vải của Vinatex tăng thêm 100 triệu m, nâng năng lực sản xuất vải của toàn tập đoàn lên mức 300 triệu m/năm.
Thật ra, với những lợi thế đang có (hạ tầng, nguồn vốn thu hút đầu tư, quy mô doanh nghiệp...), việc Vinatex tìm kiếm được đối tác phù hợp để thực hiện các mô hình “từ sợi trở đi” theo yêu cầu của TPP là không quá khó, khi đơn vị này đang nắm gần như tất cả các loại doanh nghiệp trong ngành sản xuất dệt - may.
Vấn đề không phải chỉ là SX tại VN, chắc chắn VINATEX sẽ dành nhiều ưu đãi cho các cty thành viên hơn là cty ngoài, vấn đề cuối cùng là GIÁ/CHẤT LƯỢNG.
Một phần nữa là hầu hết các nhà máy này giờ đều tập trung ở khu vực miền Trung, chưa có nhiều ở trong Nam.
VỪA QUA, Ấn Độ VÀ CŨNG CÓ BƯỚC ĐI TƯƠNG TỰ:
Ấn Độ sẽ đầu tư một khu công nghiệp gần TP.HCM, tập trung sản xuất sản phẩm dệt may với tổng số vốn khoảng 300 triệu USD.

Sau Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc, Ấn Độ sẽ là nước tiếp theo đầu tư sản xuất ngành dệt may tại Việt Nam, dù quốc gia này không nằm trong nhóm tham gia Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Vì sao người Ấn “chấm” lĩnh vực dệt may Việt Nam?

Được biết, Ấn Độ sẽ đầu tư một khu công nghiệp nhỏ gần khu vực TP.HCM, tập trung các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm dệt may với tổng số vốn khoảng 300 triệu USD. “Đây là nỗ lực của các doanh nghiệp Ấn nhằm hưởng lợi từ TPP”, ông Vinod K. Ladia, cựu Chủ tịch Hội đồng Xúc tiến Xuất khẩu hàng Dệt sợi tổng hợp và Tơ nhân tạo Ấn Độ (SRTEPC), chia sẻ tháng 4/2015 tẠi triển lãm ở tp hcm.

Theo Sở KH&ĐT tỉnh Đồng Nai, trong thời gian trên, có 28 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký 790,59 triệu USD và 22 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký 134,77 triệu USD.
Trong số các dự án FDI có vốn đầu tư lớn, nổi bật nhất là Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai (chuyên sản xuất các loại sợi vải mành, sợi spandex, nylon, polyester, sợi làm thảm, sợi thép các loại dùng làm lốp xe) với tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu USD - Ban Quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai cho biết.
-- Công ty Kwong Lung Meko là doanh nghiệp ưu tiên (18/03/2015) 17/3/2015,Tổng cục Hải quan ban hành Quyết định số 716/QĐ-TCHQ công nhận Công ty TNHH Kwong Lung Meko là doanh nghiệp ưu tiên quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 của Bộ Tài chính. Thời hạn áp dụng chế độ ưu tiên lần đầu là 36 tháng kể từ này ký Quyết định này. Sau thời hạn đó, Tổng cục Hải quan sẽ đánh giá lại để xem xét gia hạn áp dụng chế độ ưu tiên với công ty. Công ty TNHH Kwong Lung Meko có mã số thuế 1800156167, địa chỉ tại Khu công nghiệp Trà Nóc 1, TP. Cần Thơ hoạt động trong lĩnh vực thu mua chế biến lông vũ và may mặc xuất khẩu sang các thị trường chủ yếu là Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Đài Loan.
2.3 Tình hình thế giới
2.3.1 Trong một thấp kỉ tiếp theo, vị trí siêu cường số 1 là ko thay đổi và không bị thử thách bởi Trung Quốc.
20-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-trong-nam-2030
2.3.2 Dân số các thị trường lớn EU, Nhật Mỹ đang sụt giảm nhanh.
ở Eu nói riêng năm 2014 tỉ lệ sinh mới giảm 3.5% theo năm còn 5.4 triệu, so với 5.6 triệu năm 2013, trong khi con số này thập niên 1960 là 7.5 triệu.
Có chỉ hơn 127 triệu người sống ở Nhật Bản vào cyuoi61 2014, đánh dấu sự sụt giảm 215.000 người so với một năm trước đó. Vấn đề lớn nhất cho Nhật Bản có thể là tốc độ mà dân số đang già đi. Số người trong độ tuổi từ 65 trở lên ở Nhật Bản đã đạt 33 triệu. Hơn 1 trong 4 người là trên 65 tuổi và họ đông hơn người 14 tuổi trở xuống 2 đến 1. Chính phủ ước tính dân số sẽ giảm xuống 86,7 triệu vào 2060, với người trên 65 tuổi chiếm 40% của cả nước.
Tỷ lệ sinh của Mỹ đạt mức thấp kỷ lục trong năm 2013, các nhà nghiên cứu liên bang cho biết hôm thứ Năm, giảm 9% so với mức cao trong năm 2007.
2.3.3 Rủi ro cho tăng trưởng toàn cầu vẫn còn đó.
Hy Lạp đang ra quyết định dứt khoát rút lui khỏi Eurozone là thông tin nóng nhất tuần qua làm chao đảo đồng Euro. Đây là một tiền lệ có thể đặt nền móng cho các thành viên yếu kém của khối đồng tiền chung châu Âu sẽ ra đi, như Tây Ban Nha và Ý. Gần 30 năm thành lập, giấc mơ United States of European xem như sẽ tan tành.
Kinh tế Tây Âu và Trung Quốc đang có nhiều dấu hiệu xấu.
Các tập đoàn nhà nước Trung Quốc đã thực sự đi vào khủng hoảng khi không còn khả năng chỉ trả vì nợ xấu đầu tư ngoài ngành là bất động sản, và vì kinh tế thế giới suy yếu 7 năm qua.
Để cứu vãn tìn hình chính sách cắt giảm tỷ lệ dữ trự bắt buộc của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) có hiệu lực từ 20/4 với với hơn 1 nghìn tỷ Nhân dân tệ (tương dương gần 200 tỷ USD) vừa được bơm vào thị trường nhằm thúc đẩy kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, giới phân tích lo ngại, Trung Quốc sẽ rơi vào “Bẫy thiên nga đen” sau chính sách này. TQ đang dự tính tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ.
Số thất nghiệp mới trong tuần của nước Mỹ đạt 295,000, cao hơn kỳ vọng. Giá nhà mới xây ở Hoa Kỳ có giảm mạnh đến 11.4% so với đầu năm - giá trung bình từ $541K xuống còn $481K mỗi căn.
Tập đoàn Gazprom của Nga đang bị Tây Âu kiện vì phá vỡ hợp đồng khí đốt, trong khi kinh tế Nga đang trên đường sụp đổ. Các nhà kinh tế dự tính Gazprom sẽ tốn ít nhất 10 tỷ đô la Mỹ để bồi thường. Nó làm cho giá cổ phiếu của Gazprom giảm tức thì 2% trong ngày hôm qua. Có khoảng 500 tổ chức tài chính nhân hàng ở Nga sẽ sụp đổ trong năm 2015.
Đàm phán hạt nhân Iran có dấu hiệu xấu, nhưng đã nối lại do Châu Âu đang hy vọng đàm phán này sẽ giải quyết ít nhất khoảng 40 tỷ mét khối gas cho mùa đông lạnh giá, và nó sẽ là cán cân đối trọng với Nga về sự độc quyền cung cấp gas và giá gas, trong khi Nga đang cố gắng làm đường ống dẫn gas đến châu Âu qua Địa Trung Hải, thay vì phải qua Ukraina vì xung đột ở Crimea.
Tất cả những điều trên không giúp ích gì cho kinh tế toàn cầu. Mặc dù sức mạnh đồng đô la Mỹ vẫn cao ở mức > 97 điểm, nhưng giá dầu vẫn nhích nhẹ và vững bền đến mốc > $57/thùng. Giá vàng xùng xình ở ngưỡng $1190/ounce.