Tôi không biết các quan tái cơ cấu cái gì, với nền kinh tế như thế thì có vào 10 cái hay 100 cái TPP cũng chẳng lợi ích chi. Nhưng báo chí cứ thổi phồng. Vấn đề cấp bách hiện nay là chuyển đổi thể chế chính trị để huy động sức sáng tạo của dân, chứ không phải tái cơ cấu hay vào TPP."
Mình thấy đúng quá. 70 năm "độc lập" và 40 năm cỡi trói, mà cả đất nước 90 triệu dân lại có nền kinh tế tự chủ chỉ 3% nhờ vào nông dân và ngư dân. Còn các thành phần khác toàn làm thuê, bán sức lao động cho nước ngoài là sao?
Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp
Tư Giang
28/8/2015, 23:30 (GMT+7)
(TBKTSG) - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, ông Trần Đình Thiên, trao đổi với TBKTSG về tình trạng nhập siêu với Trung Quốc và hệ lụy của nó.
TBKTSG: Ông đã từng nêu quan điểm cần hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc, đặc biệt là khi có vụ giàn khoan HD 981 năm ngoái. Nhưng rồi...
- Ông Trần Đình Thiên: Khi có vụ giàn khoan tôi cứ tưởng chúng ta chuyển hướng được thị trường nhưng rồi nhập siêu tiếp tục tăng lên đến gần 30 tỉ đô la Mỹ trong năm 2014. Ở các diễn đàn kinh tế, có nhiều người nói sợ ngưng thương mại, nhưng tôi luôn khẳng định ngưng được là tốt. Chúng ta cần biết cắn răng chịu đau đớn để thay đổi cấu trúc. Nhưng chúng ta cứ vì ngắn hạn mà lơ đi dài hạn...
TBKTSG: Nhìn vào cấu trúc xuất nhập khẩu hai nước, ông thấy điều gì?
- Chúng ta xuất gì? Toàn là hàng nông sản thô, khoáng sản thô. Mình xuất thế là toàn bị thiệt, để các doanh nghiệp của họ làm tiếp và hưởng hết giá trị gia tăng. Còn mình nhập của họ rất nhiều, hầu hết là nguyên liệu đầu vào, để không phải làm.
Chúng ta nhập hàng của họ để lắp ráp, gia công, nghĩa là chúng ta xuất khẩu hộ họ, và chỉ được hưởng có tí giá trị thôi. Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp. Còn họ thì xuất “ăn” đường xuất, nhập “ăn” đường nhập.
Ngay cả về biên mậu, họ cũng khác hẳn mình. Họ khuyến khích người dân dùng xe ba gác thồ quặng về còn chúng ta khuyến khích người dân sang cõng hàng về.
Cấu trúc kinh tế của chúng ta sai lệch quá rồi, không sao thay đổi được.
TBKTSG: Vậy thì ai là người có lỗi? Doanh nghiệp hay chính sách?
- Do hệ thống chính sách định hướng chứ, từ tỷ giá, lãi suất, đất đai, hệ thống động lực... làm sao mà đổ lỗi cho doanh nghiệp được! Hệ thống chính sách đó nó làm cho cơ cấu kinh tế sai lệch, không khuyến khích sản xuất trong nước, làm các ngành công nghiệp luôn nằm ở đáy của chuỗi giá trị.
TBKTSG: Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà chúng ta đã và sẽ ký đều coi trọng quy tắc nguồn gốc xuất xứ. Trong bối cảnh nguyên liệu, vật liệu đầu vào phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc như hiện nay thì tình hình sẽ như thế nào?
- Đây là vấn đề quá khó để trả lời. Tôi cũng chưa hình dung nổi chúng ta sẽ chuyển hướng ra sao, và nếu không chuyển hướng thì được hưởng lợi gì từ các FTA. Nguồn gốc xuất xứ là vấn đề rất khó khăn, và nhạy cảm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong ngành dệt may từ Trung Quốc đã chuyển sang đây để đón đầu TPP. Và điều này chúng ta phải chịu.
TBKTSG: Vì sao chúng ta tham gia nhiều FTA như vậy? Điều này có tốt không cho tổng thể nền kinh tế?
- Có nhiều chuyên gia nói các FTA đều có lợi và cần hưởng ứng hết các FTA. Nhưng vấn đề là năng lực của nền kinh tế, năng lực của doanh nghiệp nội địa chỉ có vậy thôi. Lẽ ra, chúng ta chỉ dồn cho một vài FTA thì doanh nghiệp còn vùng lên được, đây có mười mấy FTA thì năng lực đâu mà tận dụng hết? Điều đó dẫn đến nguy cơ: ông mang cái lợi ấy cho kẻ khác hưởng. Cứ xem các doanh nghiệp FDI đã chiếm tới hơn 70% giá trị nhập khẩu. Trong khi đó, các vòng xoáy FTA rất nhiều, đan xen vào nhau, thì các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái Lan sẽ hưởng lợi, chứ có phải doanh nghiệp Việt Nam đâu.
TBKTSG: Chẳng qua là thể chất, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam yếu quá?
- Đó là nguyên nhân trực tiếp, nguy hiểm hiện nay, còn nguyên nhân sâu xa thì phải nhìn lại là lịch sử...
Trong chuyện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thì mỗi năm các doanh nghiệp Việt Nam cũng “bán mình” tới năm tỉ đô la Mỹ. Trong một cuộc họp gần đây, tôi nói, bất kỳ chính sách kinh tế đối ngoại nào mà chúng ta đang làm cũng dường như để thể hiện mình tự do hóa thị trường. Vấn đề là điều đó tác động như thế nào, và sẽ chịu hậu quả gì trong tương quan kinh tế với Trung Quốc? Lẽ ra, phải có tính toán, dự liệu rồi mới quyết định chính sách đó về mặt thời gian, về mặt liều lượng. Chẳng hạn, khi quyết định bán bất động sản cho người nước ngoài, vâng, tốt thôi. Song, vấn đề là khi nhà đầu tư Trung Quốc vào mua với số lượng lớn, thì sẽ tác động như thế nào, ai có thể cạnh tranh với họ?
Hay chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bán cổ phần cho doanh nghiệp nước ngoài, nới room. Về mặt nguyên lý là tốt rồi, cần chuyển nguồn lực cho doanh nghiệp tư nhân. Nhưng vấn đề, co kẻ đang há mồm đứng phía sau kia, vớ vẩn là nó đớp luôn cả ngành công nghiệp, chứ không chỉ là vài doanh nghiệp. Thậm chí bỏ ra vài tỉ đô la là họ thao túng luôn thị trường chứng khoán... Có những vấn đề đó!
TBKTSG: Những câu chuyện này bị nhiều chuyên gia, không chỉ ông, phản ứng. Nhưng vì sao vẫn cứ như vậy?
- Nên hiểu tình thế chúng ta là khó. Chúng ta làm được cái này thì mất cái kia, nhưng cái được là ngắn hạn, còn cái mất là dài hạn. Ta phải nhắm mắt lại để được cái trước mắt đã, vì chúng ta bí đến thế.
“Việt Nam cần tạo ra một nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ”
Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới nhận định “Việt Nam cần tạo ra một nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ”.
Sáng 28/7, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2015 chủ đề: “Kinh tế Việt Nam- Hội nhập và phát triển bền vững” đã chính thức được khai mạc tại Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái FLC Sầm Sơn (Thanh Hoá).
Diễn đàn lần này chỉ diễn ra trong 1 ngày duy nhất với 2 trình bày đễ dẫn từ đại diện Bộ Công thương và Ngân hàng Thế giới (WB), sau đó các chuyên gia, đại biểu sẽ thảo luận xung quanh 2 bài trình bày nêu trên.
Mô hình phát triển khác biệt Hàn Quốc
Ông Sandeep Mahajan đã đánh giá cao việc Việt Nam khai thác các cơ hội tăng trưởng bằng cách hội nhập kinh tế sâu hơn bao gồm cả việc việc thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do với các nước ASEAN và các đối tác lớn khác ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Theo ông Sandeep Mahajan, là một nền kinh tế thương mại quy mô nhỏ và ngày càng mở cửa, Việt Nam sẽ đạt được nhiều lợi ích từ tự do hóa thương mại, ước tính ban đầu cho thấy Hiệp định TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng trưởng thêm tới 8%.
Vị chuyên gia đến từ WB cũng cho biết, Việt Nam đã chủ động ứng dụng các hiệp định thương mại bao gồm cả việc gia nhập WTO như một cách định hướng và ràng buộc quá trình cải cách chính sách thương mại trong nước.
Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng, còn nhiều vấn đề cần xử lý trong các lĩnh vực như dịch vụ và đầu tư, cả hai đều quan trọng để tăng trưởng mạnh mẽ trong trung hạn.
"Mặc dù Việt Nam đã nhận được dòng vốn FDI chảy vào khá đáng kể trong những năm qua, trong môi trường kinh doanh vẫn tồn tại tình trạng không rõ ràng, có thể ngăn cản ít nhất là một vài hoạt động có lợi. Việt Nam đã thực hiện tự do hóa thuế quan đối với hàng hóa sau khi gia nhập WTO nhưng từ đó đến nay đã có những bước lùi", ông Sandeep Mahajan nêu nhận định.
Đánh giá việc Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, ông Sandeep Mahajan cho biết, sự linh hoạt của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu mang lại cả thách thức và cơ hội cho triển vọng phát triển của Việt Nam.
So sánh với Hàn Quốc, vị chuyên gia cho rằng, mô hình phát triển của Việt Nam khác biệt so với Hàn Quốc vì ở Hàn Quốc những tập đoàn kinh tế lớn đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung và phối hợp hoạt động trên các ngành bao gồm điện tử dân dụng và thiết bị vận tải.
Trong khi đó, tại Việt Nam trọng tâm không phải là phát triển toàn diện chuỗi cung ứng của quốc gia mà là phát triển năng lực ở những khâu cụ thể tạo thành một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu với các công việc khác nhau thực hiện ở những địa điểm khác nhau.
"Đằng sau hiện trạng này, sự phát triển của Việt Nam ngụ ý bước đầu tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, một thủ tục đã được triển khai khá tốt trong nhiều ngành sau đó “dịch chuyển lên” trong chuỗi cung ứng toàn cầu để thực hiện những hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn", ông Sandeep Mahajan phân tích.
“Viet Nam can tao ra mot nen kinh te tu nhan manh me”
Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới
Từ những phân tích trên, theo ông Sandeep Mahajan, vấn đề Việt Nam hiện đang đối mặt không phải lựa chọn đúng doanh nghiệp hay ngành cho 20 năm tới mà là sắp đặt đúng vị trí cấu trúc, thể chế và hạ tầng để tạo nên nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ. Trong đó, các nguồn lực có thể dịch chuyển nhanh chóng về phía những doanh nghiệp có sức cạnh tranh.
"Trong bối cảnh toàn cầu, với việc Việt Nam đang trải qua một quá trình tăng trưởng dồn ép, thách thức chính sách là cần nhận diện những sự can thiệp chiến lược để hỗ trợ và củng cố hoạt động của cơ chế thị trường", ông kiến nghị.
FDI vận hành "khép kín"
Đánh giá về hoạt động thương mại của Việt Nam gần đây, ông Sandeep Mahajan cho biết, trong thời gian dài hơn, không chỉ tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mà cấu trúc hàng xuất khẩu cũng quan trọng và đặc biệt là mức độ công nghệ mà chúng bao hàm.
Điều này được chứng minh thông qua các con số từ năm 2008 đến năm 2013, xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao trong tổng hàng hóa xuất khẩu sản xuất theo phương pháp công nghiệp tăng từ 5% lên 28%, tương đương với Trung Quốc và cao hơn mức trung bình của khối ASEAN.
Đồng thời, vị chuyên gia này cũng cho biết, mặc dù có xuất phát điểm thấp, ngành công nghệ hiện đang bùng nổ, một phần là nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đáng kể từ các công ty công nghệ.
Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh, phần lớn vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng vận hành một cách khép kín, tạo ra ít hy vọng chuyển giao công nghệ hoặc hiệu ứng lan tỏa xuôi dòng tới các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo phân tích của ông Sandeep Mahajan cách thức FDI ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và năng suất của doanh nghiệp địa phương phụ thuộc vào các chính sách cũng như môi trường kinh doanh và trình độ công nghệ của doanh nghiệp.
"Điều kiện cơ bản để có hiệu ứng lan tỏa từ FDI là sự tồn tại của khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài", ông Sandeep Mahajan nói.
Cũng theo ông ông Sandeep Mahajan Việt Nam đang trải qua một làn sóng công nghiệp hóa và thay đổi về cấu trúc chưa từng có, đất nước đang bước vào giai đoạn “phát triển dồn ép”, tạo ra những thách thức mới cho các nhà hoạch định chính sách.
